KỲ MÔN THUYÊN CHÍNH – CHIẾM PHÁP THIÊN
KỲ MÔN THUYÊN CHÍNH – CHIẾM PHÁP THIÊN
KHẢO THÍ MÔN – TÓM LƯỢC
Luận về thi văn:
Lấy nhật can (chủ về địa bàn) làm thí sinh.
Lục Đinh (chủ về thiên bàn) và Cảnh môn làm bài thi.
Thiên Phụ (phàm tinh đều chủ về thiên bàn) làm giám khảo.
Trực Phù (hành tinh chỉ huy trên thiên bàn) làm tổng tài.
Thiên Ất (hành tinh chỉ huy dưới địa bàn) làm quan tiến cử.
Thái Tuế (chủ về thiên bàn) làm nguyên thủ.
Nguyệt Kiến (chủ về thiên bàn) làm chủ khảo.
Yêu cầu: Lục Đinh và Cảnh môn phải vượng tướng, được cát cách; lại cần Thiên Phụ, Trực Phù, Thiên Ất… các cung này tương sinh với cung nhật can.
Luận về thi võ:
Lấy Giáp Thân Canh (chủ về địa bàn) làm tên (mũi tên).
Giáp Ngọ Tân (chủ về địa bàn) làm đích.
Canh xung khắc Tân cung là trúng đích.
Đồng thời xét các cung Thiên Phụ… với cung nhật can sinh hay khắc.
Hoặc tham khảo cung niên can của bản thân (chủ về địa bàn) có cát cách hay không, và các cung Thiên Phụ… có sinh cho nó hay không.
(Phàm sự sinh khắc của các loại thần đều xem cung lạc của chúng theo bát quái ngũ hành. Dưới đây cũng vậy.)
Chiếm thi tuổi (khảo thí hàng năm):
Cung nhật can hoặc cung niên can của người được tam kỳ và bốn cửa cát Khai, Hưu, Sinh, Cảnh, không phạm kỳ mộ, môn bách; lại Lục Đinh ở cung vượng tướng, cung Thiên Phụ lại đến sinh cung nhật can hoặc niên can của người thì là tối cát.
Muốn biết cấp bậc cao thấp, lấy cung Lục Đinh suy vượng và có môn kỳ hay không mà luận.
Chiếm thi hội (kỳ thi hội):
Các cung Trực Phù, Thiên Ất… đều không nên khắc cung nhật can, và cần Lục Đinh cung vượng tướng thì cát.
Chiếm thi đình (thi đình):
Cảnh môn ở cung vượng tướng, lại được tam kỳ, và Thái Tuế, Nguyệt Kiến đến sinh cung nhật can thì cát.
Chiếm thi võ:
Cảnh môn được vượng tướng, gặp Trực Phù tương sinh, lại cung Canh lạc xung khắc cung Tân lạc là trúng đích, đều cát. Còn lại giống như thi văn.
QUAN LỘC MÔN – TÓM LƯỢC
Chiếm cầu quan:
Khai môn là quan văn.
Đỗ môn là quan võ.
Thái Tuế là nguyên thủ.
Nguyệt Kiến là bộ lại (Bộ Lại).
Trực Phù là trưởng quan.
Cần Khai môn và Đỗ môn sinh vượng thì cát; nếu Khai, Đỗ môn hưu tù bị khắc, chủ bị giáng phạt.
Chiếm văn thư (công văn, giấy tờ):
Lấy Lục Đinh (chủ về thiên bàn) làm văn thư.
Nếu Lục Đinh tương sinh với Phù (Trực Phù) và Sứ (Trực Sứ) thì nhanh, tương khắc thì chậm.
Nếu phạm Chu Tước đầu giang (Đinh + Quý) thì vô vọng.
Lấy can chi của cung Lục Đinh làm kỳ hạn đến.
Chiếm xin nghỉ phép được hay không:
Cung Trực Phù thiên bàn là trưởng quan.
Cung Trực Phù địa bàn (tức Thiên Ất cung) là người xin nghỉ.
Cần cung Trực Phù thiên bàn sinh cung Thiên Ất địa bàn, hoặc cung Thiên Ất khắc cung Trực Phù thì mới được chuẩn.
Nếu không thế thì không được.
Thăng chuyển hay không:
Khai môn lâm cung sinh vượng, có tam kỳ cát cách, lại gặp Thái Tuế, Nguyệt Kiến tương sinh thì ắt thăng.
Hoặc dùng cung Trực Phù sinh cung Khai môn cũng được.
Lại Thái Tuế, Nguyệt Kiến, Trực Phù cung tương sinh với cung nhật can hoặc niên can của người cũng cát.
Chiếm phạt (giáng chức, phạt):
Khai môn hưu tù, hoặc bị cung sở bách, lại gặp tuế, nguyệt, phù, sứ tương khắc thì chủ bị bãi chức.
Nếu giờ phạm Thiên võng tứ trương hoặc Ngũ bất ngộ, thì phòng bị tội.
Nhưng nếu Khai môn vượng tướng thì chỉ bị giáng phạt mà thôi.
Chiếm quan đang tại chức:
Lấy cung niên can của bản thân làm chủ.
Nếu thiên bàn tinh cát, mà được môn kỳ cát cách thì cát.
Phạm kích hình, phi phục, và các hung cách thì chủ bị bãi chức, hoặc chết tại chức.
Chiếm nhậm chức (lên đường nhận chức):
Lấy thời điểm nhậm chức, xem phương hướng.
Cung ở phương đó được cát cách, môn kỳ thì chủ thăng.
Không có cát cách nhưng tinh vượng thì không sao.
Nếu tinh hưu tù, chủ bị bãi chức.
Nếu gặp phản ngâm, ngũ bất ngộ thời, cùng kỳ mộ, môn bách, phi phục v.v., dù không xem phương cũng biết là không tốt.
Chiếm văn thư (giấy tờ):
Lấy Lục Đinh làm văn thư.
Nếu Lục Đinh tương sinh với Trực Phù, Trực Sứ thì nhanh, tương khắc thì chậm.
Nếu phạm Chu Tước đầu giang, chủ văn thư thất lạc, vô vọng.
Lại xem Lục Đinh rơi vào cung nào, lấy can chi của cung đó định kỳ hạn đến.
Chiếm xin nghỉ phép:
Cung Trực Phù thiên bàn khắc cung Thiên Ất địa bàn, hoặc cung Thiên Ất sinh cung Trực Phù thì đều không được chuẩn.
Hai cung so sánh (cùng khí) cũng không được.
Nếu Trực Phù sinh Thiên Ất, Thiên Ất khắc Trực Phù thì mới được chuẩn.
TÀI LỢI MÔN – TÓM LƯỢC
Chiếm cầu tài:
Lấy Sinh môn làm thần tài.
Giáp Tý Mậu (chủ về thiên bàn) làm lợi ích.
Cần Sinh môn và thiên bàn tinh sinh cung, được cát cách, và Giáp Tý Mậu tương sinh với chúng.
Chiếm phát nợ (cho vay):
Trực Phù là chủ nợ.
Thiên Ất là người vay.
Chiếm đòi nợ:
Thương môn là người đòi nợ.
Hoặc lấy Câu Trần làm người đòi nợ.
Chiếm mượn, nợ, mua chịu:
Trực Phù là chủ vật.
Thiên Ất là người đến mượn.
Chiếm mua bán:
Trực Phù là người mua vật.
Sinh môn là vật được bán.
Cung Sinh môn lạc là chủ vật.
Chiếm hợp tác làm ăn:
Lấy cung Sinh môn làm chủ.
Xem can của thiên bàn và địa bàn để phân người và ta.
Đều lấy người khác sinh ta là cát, khắc ta là hung.
Chiếm khai trương (mở cửa hàng):
Xem cung Sinh môn cát hung cách để định thành bại.
Chiếm cầu tài (chi tiết):
Chuyên xem cung Sinh môn lạc.
Thiên bàn tinh ở cung đó phải tương sinh với cung Sinh môn.
Cung Sinh môn là thể, thiên bàn tinh là dụng.
Dụng sinh thể thì cát, thể sinh dụng thì không cát.
Lại xem thiên bàn và địa bàn được cát cách, cát tinh thì cầu như ý; hưu tù thì không cát, cầu không toại.
Giáp Tý Mậu là lợi ích, cung lạc của nó nên sinh cung Sinh môn.
Và hai cung này đều nên lâm nội giới thì mới nhanh.
(Dương độn: lấy Khảm, Cấn, Chấn, Tốn làm nội; Ly, Khôn, Đoài, Càn làm ngoại. Âm độn: lấy Ly, Khôn, Đoài, Càn làm nội; Khảm, Cấn, Chấn, Tốn làm ngoại. Dưới đây cũng vậy.)
Chiếm lợi tức:
Xem cung Sinh môn lâm.
Nếu hưu tù lại có hung cách thì lỗ vốn.
Nếu vượng tướng, lại được cung Giáp Tý Mậu sinh thì ắt thu lợi gấp bội.
Lấy can mà Giáp Tý Mậu lâm để quyết số lượng nhiều ít.
(Số của thập can: Giáp – Kỷ là 9, Ất – Canh là 8, Bính – Tân là 7, Đinh – Nhâm là 6, Mậu – Quý là 5. Dưới đây cũng vậy.)
Chiếm mượn nợ:
Trực Phù sinh Thiên Ất, Thiên Ất khắc Trực Phù thì sẽ được; bằng không thì không được.
Chiếm cho vay:
Trực Phù khắc Thiên Ất, hoặc Thiên Ất sinh Trực Phù là cát.
Nếu Trực Phù sinh Thiên Ất, hoặc Thiên Ất khắc Trực Phù là hung.
Nếu Sinh môn cùng Thiên Ất đồng khắc Trực Phù, thì tiền mất hết.
Nếu đồng sinh Trực Phù, thì cả vốn lẫn lãi đều về.
Hoặc Sinh môn và Thiên Ất, một sinh một khắc, thì vốn lãi không trọn vẹn và chậm.
Nếu Thiên Ất, Sinh môn hưu tù, dù sinh Trực Phù cũng e rằng lực bất tòng tâm.
Chiếm đòi nợ:
Cung Thương môn khắc cung Thiên Ất thì có thể đòi.
Cung Thiên Ất khắc cung Thương môn thì khó đòi.
Thương môn và Thiên Ất cùng sinh Trực Phù: trả đủ.
Cùng khắc Trực Phù: không trả.
Thương môn sinh Trực Phù mà khắc Thiên Ất: ắt trả.
Ngược lại thì không trả.
Thiên Ất vượng tướng khắc Thương môn: có tiền nhưng không trả.
Thiên Ất hưu tù sinh Thương môn: muốn trả nhưng không có lực, hoặc không trả đủ.
Nếu Thiên Ất thừa Canh Tân đến khắc Trực Phù, chủ có việc quan tụng.
Nếu Trực Phù khắc Thiên Ất gặp Cảnh môn, cũng chủ phải qua quan tụng mới trả.
Nếu Giáp Tý Mậu phù gặp Khai môn, cộng với giờ can, lâm nội giới, thì trả đủ và nhanh.
Chiếm chuộc vật sản:
Dùng Trực Phù, Thiên Ất, Trực Sứ để luận.
Trực Phù chủ động, Thiên Ất chủ tĩnh, Trực Sứ làm người trung gian.
Nếu ta muốn chuộc lại từ người khác: ta là Trực Phù, người kia là Thiên Ất.
Nếu người khác muốn chuộc từ ta: người kia là Trực Phù, ta là Thiên Ất.
Đều lấy cái sinh ta là có thể chuộc, khắc ta là không thể chuộc.
Lại Trực Sứ sinh cả hai nhà thì được, khắc cả hai thì không được.
Nếu có Huyền Vũ, Câu Trần đồng cung, chủ phải qua quan tụng.
Chiếm mua bán:
Trực Phù là người mua, Sinh môn là vật bán, cung Sinh môn lạc là chủ vật.
Nếu cung Sinh môn sinh cung Trực Phù, việc mua bán ắt thành, lại có lợi.
Nếu khắc Trực Phù thì không thành.
Nếu cửa (Sinh môn) và cung lạc tương sinh, là vật luyến chủ, cũng khó giao dịch.
Nếu Trực Phù vượng tướng đến sinh cung Sinh môn: lợi cho người bán.
Nếu Sinh môn đến sinh cung Trực Phù: lợi cho người mua.
Phàm muốn mua vật, xem phương của chủ bán, được cát cách thì có lợi, hung cách thì không lợi.
Phàm muốn bán vật, xem phương của người mua, được cát cách thì thuận lợi, hung cách thì phiền não.
Chiếm hợp tác:
Xem cung Sinh môn (thiên bàn và địa bàn).
Địa bàn là chủ nghiệp (người đang có cơ sở).
Thiên bàn là người muốn hợp tác.
Nếu địa bàn và thiên bàn tương khắc, hoặc thiên bàn sinh địa bàn, đều không lợi.
Chỉ khi địa bàn sinh thiên bàn, tức người kia đến sinh ta, mới có thể cùng chia lợi ích mà hợp tác.
Chiếm khai trương:
Xem cung Sinh môn lạc, nếu vượng tướng, lại được cát tinh và tam kỳ, cùng các cách Long hồi thủ, Điểu điệt huyệt… thì chủ buôn bán hưng long.
Nếu không đầy đủ thì bình thường.
Nếu lạc tuần không vong, hoặc hưu tù thừa hung tinh, lại có hung cách như Canh + Kỷ, chủ đại bất lợi.
Cát tinh được Thiên Phụ thì hợp với xuân hạ, được Thiên Cầm thì hợp với tháng quý (cuối mùa), Thiên Tâm thì hợp với thu đông.
MƯU VỌNG MÔN – TÓM LƯỢC
Chiếm ủy thác (nhờ vả):
Thiên Ất là người nhờ vả.
Trực Phù là người được nhờ vả.
Trực Sứ là người nhận lời nhờ vả.
Ví dụ mưu cầu chỗ dạy học: Thiên Phụ là thầy, Trực Phù là chủ học quán, Thiên Nhuế là học trò.
Mỗi loại thần, lấy cái sinh ta là cát.
Chiếm ủy thác (chi tiết):
Cung Thiên Ất là người nhờ vả.
Cung Trực Phù là người được nhờ vả.
Cung Trực Sứ là người nhận lời.
Nếu Trực Phù sinh Trực Sứ, ắt tin lời nói.
Trực Phù khắc Trực Sứ, lời nói không được nghe.
Trực Sứ sinh Trực Phù mà khắc Thiên Ất, không chịu nói hết lời.
Trực Phù khắc Trực Sứ mà sinh Thiên Ất, việc thành nhưng chậm.
Trực Phù và Trực Sứ cùng sinh Thiên Ất, hoặc đều bị Thiên Ất sinh, việc ắt thành và nhanh.
Chiếm cầu việc:
Lấy hai cung Trực Phù và Thiên Ất.
Nếu người đến cầu ta: người là khách, ta là chủ.
Nếu ta đến cầu người: người là chủ, ta là khách.
Đều lấy Trực Phù làm khách, Thiên Ất làm chủ.
Tương sinh thì dễ thành, tương khắc thì không thành.
Nếu có kỳ mộ, môn bách, hung cách, thì vì cầu việc mà sinh thị phi, hoặc lại tốn hao tài vật.
Nếu có phương hướng nhất định, thì lấy can của thiên bàn và địa bàn ở phương đó để phân chủ khách cũng được.
Chiếm tìm chỗ dạy (tòng quán):
Thiên Phụ là thầy.
Trực Phù là chủ quán.
Thiên Nhuế là học trò.
Nếu Trực Phù sinh cung Thiên Phụ, lại được tam kỳ, cát môn và các cát cách, ắt thành.
Lại Thiên Nhuế ở cung vượng tướng thì học trò đông, hưu tù thì học trò ít.
Nếu có phương hướng để mưu cầu, thì lại xem cung phương đó, được tam kỳ, cát môn và các cát cách thì có quán.
PHỎNG YẾT MÔN – TÓM LƯỢC
Chiếm yết kiến quý nhân:
Hưu môn là quý nhân (hoặc quan đã về hưu).
Khai môn là quan đương chức.
Thời can là người đến yết kiến.
Chiếm tìm thầy: Thiên Nhuế là minh sư.
Đều cần vượng tướng, được cát, và tương sinh với thời can.
Nếu gặp Canh cách là bất ngộ.
Lại xem phương hướng sinh khắc của thiên bàn và địa bàn.
Chiếm yết kiến quý nhân (chi tiết):
Cung Hưu môn hoặc Khai môn sinh cung thời can (tức cung Trực Phù – phàm thuộc về chủ động của ta, đều lấy cung này. Những chỗ khác cũng vậy).
Và cung thời can, môn cung tương sinh, được cát cách thì ắt toại ý mỹ mãn.
Nếu tương khắc thì không được gặp.
Nếu ta sinh người (chủ sinh khách), thì dù có gặp cũng chẳng ích lợi gì.
Lại cần hai cung này đều vượng tướng mới cát.
Chiếm thăm bạn:
Nếu không có loại thần chuyên dụng, lấy cung của phương định đến thăm làm chủ.
Cần thiên bàn và địa bàn tương sinh, lại được kỳ môn, đi ắt gặp.
Nếu tương khắc, không có cát môn, thì không gặp.
Gặp Canh cộng với năm, tháng, ngày, giờ cách thì bị cự tuyệt không tiếp.
Lại Bính + Canh thì dù có gặp cũng không hợp.
Chiếm tìm thầy:
Nếu phương định đến, trên đó có Thiên Nhuế là có thể gặp.
Phương đó sinh cung thời can, ắt được nhận.
Nếu phương không cố định, xem cung thời can và cung Thiên Nhuế sinh khắc để định có được nhận hay không.
Và cần cung Thiên Nhuế có tam kỳ, cát môn và cát cách, mới là minh sư.
Chiếm mời người có đến không:
Phương của người được mời, xem cung địa bàn được can gì.
Cần địa bàn can khắc thiên bàn can, lại can đó ở thiên bàn chuyển đến nội giới thì mới đến, bằng không thì không đến.
Chiếm thăm người có gặp không:
Phương của người được thăm, xem sao ở địa bàn của phương đó sinh sao ở thiên bàn của cung đối xung, hoặc bị sao ở thiên bàn cung đối xung khắc, đều là gặp.
HÔN NHÂN MÔN – TÓM LƯỢC
Lấy Canh làm chồng, Ất làm vợ (Canh, Ất: người chủ động thì lấy thiên bàn, người bị động thì lấy địa bàn).
Lục Hợp làm mối.
Mỗi loại thần, xem cung sinh khắc để định thành hay không.
Chiếm hôn nhân:
Cung Canh và Ất tương sinh thì nói sẽ thành, tương khắc thì không thành.
Cung Lục Hợp sinh cung Ất thì hướng về nhà gái, sinh cung Canh thì hướng về nhà trai.
Canh khắc Ất: nhà gái sợ mà không gả.
Ất khắc Canh: nhà trai chê mà không cưới.
Ất được hung cách: chủ nữ tính ác.
Canh được hung cách: chủ chồng tính không tốt.
Chiếm ở rể (thêu gia):
Cần cung Lục Canh thiên bàn đến sinh cung Lục Ất địa bàn, và trên Canh được cát tinh, chủ chồng tính ôn lương, dễ thành.
Nếu nam cầu nữ, nên cung Lục Ất địa bàn sinh cung Lục Canh thiên bàn.
THAI DUẨN MÔN – TÓM LƯỢC
Lấy Khôn cung làm người mẹ mang thai.
Lấy cửa được ở Khôn cung làm thai tức (hơi thở của thai).
Thiên bàn tinh làm thai thần.
Địa bàn tinh làm sản thần.
Dựa vào âm dương của tinh để phân trai gái.
Thiên bàn tinh và địa bàn tinh, cửa và cung, đều không nên tương khắc.
Lấy can ở thiên bàn của cung đối xung với Khôn cung làm kỳ sản.
Chiếm thai sản:
Ở Khôn cung: thiên bàn tinh khắc địa bàn tinh, hoặc cửa khắc cung, là mẹ bầu không an.
Nếu địa bàn tinh khắc thiên bàn tinh, hoặc cung khắc cửa, là con không an.
Lại xem thiên bàn tinh: dương là trai, âm là gái.
Gặp phục ngâm là con luyến bụng mẹ, sinh đẻ ắt chậm.
Khôn cung được môn kỳ cát cách, sinh con tốt.
Sao, cửa, cung không tương bách chế, lại được bốn vị âm thần cát, thai sản bình an.
Lấy can ở địa bàn Khôn cung làm ngày thụ thai.
Lấy can ở thiên bàn của cung đối xung Khôn cung, lấy ngày của can đó làm ngày sinh.
HÀNH NHÂN MÔN – TÓM LƯỢC
Nếu ở nhà mà chiếm người đi xa: lấy cung năm mệnh của họ và phương đã đi, xem cát hung cách.
Nếu người đi xa chiếm việc ở nhà: lấy cung trường sinh của bản nhật, xem cát hung cách.
Chiếm kỳ về: chuyên dùng Canh cách.
Chiếm tin tức: lấy Lục Đinh hoặc Cảnh môn lâm nội ngoại giới để phân nhanh chậm; cát cách thì tin cát, hung cách thì tin hung.
Chiếm người đi xa bình an hay không:
Xem cung của phương đã đi, xem bàn trên và bàn dưới.
Được tam kỳ, cát môn, cát cách thì an, trái lại thì không an.
Lại xem cung năm mệnh của người đó, nếu thừa vượng tướng khí, được kỳ môn cát cách, thì ở ngoài mọi việc đều như ý.
Nếu cung năm mệnh hưu tù, hoặc lâm tuần không vong, và các hung cách, đều chủ không tốt.
Chiếm việc nhà bình an hay không:
Lấy cung trường sinh của nhật can làm tượng.
Ví dụ nhật can là Giáp, Giáp trường sinh tại Hợi, thì xem cung Hợi có hung tinh, hung cách hay không để định cát hung.
Lại xem cung khắc nó là hành gì, lấy lục thân thuộc về nhật can mà luận (ví dụ cung Hợi thuộc Kim, sợ Hỏa khắc, Hỏa là tử của Giáp Mộc, thì lo con bệnh; các trường hợp khác suy ra).
Chiếm ngày về:
Chuyên dùng Canh cách.
Dương thời (năm giờ Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu): lấy can dưới Thiên bàn Canh lâm.
Âm thời (năm giờ Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý): lấy can trên Địa bàn Canh.
Xem đó có phải là năm, tháng, ngày, giờ cách không.
Năm cách thì năm về, tháng cách thì tháng về, ngày cách thì ngày về, giờ cách thì giờ về.
Nếu Ất – Canh hòa hợp (hợp), và Canh nhập mộ (Kim mộ tại Sửu, tức Cấn cung) là không về.
Lại xem cung năm mệnh của người đi:
Nếu ở Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, dương độn là nội là gần, âm độn là ngoại là xa.
Nếu ở Ly, Khôn, Đoài, Càn, dương độn là ngoại là xa, âm độn là nội là gần.
Lại phục ngâm thì thân chưa động, phản ngâm thì về nhanh.
Chiếm tin tức:
Lấy cung Lục Đinh lạc (dương thời lấy thiên bàn, âm thời lấy địa bàn) làm tin.
Lâm nội giới thì nhanh, ngoại giới thì chậm.
Lục Đinh nhập mộ và lạc không vong, chủ trì trệ hoặc không có tin.
Lại Đằng Xà (gặp Đinh + Quý?) chủ chậm, Đầu giang không tin.
Mang tam kỳ, hợp cát cách thì tin mừng.
Canh cách thì không tin.
Đầu giang dù ở nội giới cũng không tin.
Cách khác: xem Cảnh môn lâm nội ngoại giới để chiếm nhanh chậm. Môn bách thì không tin.
Nếu Cảnh môn lâm ngay chỗ người hỏi đang ở, tin đến rất nhanh. Ví dụ người hỏi ở phương Bắc, Cảnh môn lâm Khảm, tin đến ngay; các trường hợp khác suy ra.
Chiếm ngày về (cách khác):
Lấy cung đối xung với phương người đi đang ở.
Nếu năm mệnh của người đi ở trong cung này thì về.
Ngày về lấy sự vượng suy của can chi cung này mà quyết.
Ví dụ: người đi sinh năm Giáp Tý, đi về phương Nam. Nếu trong cuộc cục, can chi Giáp Tý lâm Khảm thì về; lâm Khôn, Đoài, Càn thì đang trên đường; lâm Cấn, Chấn, Tốn thì lại đi nơi khác.
Lại xem cát hung của sao cửa nơi can chi lâm để định bình an hay không.
(Theo phép trên, nếu là dương độn, thì lâm Cấn, Chấn, Tốn là sắp về, lâm Khôn, Đoài, Càn là đi nơi khác.)
Các bài liên quan:
- Mối Quan Hệ Tác Dụng Giữa Trực Phù Và Trực Sử – Phù Ứng Kinh
- Trực Phù Và Trực Sử – Hạt Nhân Vận Hành Của Mọi Cục Kỳ Môn (Phần 1)
- Trực Phù Và Trực Sử – Hạt Nhân Vận Hành Của Mọi Cục Kỳ Môn (Phần 2)
- Trực Phù Trong Kỳ Môn Độn Giáp
- Trực Sử Trong Kỳ Môn Độn Giáp
- Dụng Thần Phân Đoán Hành Nhân Đi Lạc (Ứng Dụng Phù – Sử)
- Nguyên Tắc Dự Đoán Và Khởi Niệm Lập Cục Trong Kỳ Môn Độn Giáp
- Chuyên Luận Về Không Vong Trong Kỳ Môn Độn Giáp (Liên Quan Phù Ứng)
