PHƯƠNG PHÁP XẾP BÀN KỲ MÔN ĐỘN GIÁP (PHẦN 1): KHỞI CỤC

PHƯƠNG PHÁP XẾP BÀN KỲ MÔN ĐỘN GIÁP (PHẦN 1): KHỞI CỤC

Bất kể là môn thuật số nào, khởi bàn đều là kiến thức nền tảng nhất. Suy cho cùng, nếu không rõ cách bàn được sắp xếp ra sao thì sẽ chẳng nói gì đến việc dùng bàn đó để xem xét sự việc. Mặc dù hiện nay có rất nhiều phần mềm xếp bàn tiện lợi, nhưng quan điểm của tôi là nên hiểu rõ nguyên lý căn bản. Hơn nữa, có nhiều phương pháp xếp bàn khác nhau, khi khởi bàn cũng cần biết lựa chọn cách nào cho phù hợp. Vì vậy, trong bài viết hôm nay, tôi sẽ trình bày phương pháp khởi bàn của Kỳ Môn Độn Giáp.

Phân loại theo thời gian khởi cục

Kỳ Môn Độn Giáp khởi cục theo thời gian có thể chia thành:

  • Niên gia Kỳ Môn (theo năm)

  • Nguyệt gia Kỳ Môn (theo tháng)

  • Nhật gia Kỳ Môn (theo ngày)

  • Thời gia Kỳ Môn (theo giờ) – hiện được sử dụng phổ biến nhất.

  • Phân gia Kỳ Môn và Khắc gia Kỳ Môn (theo phân khắc)

Bài viết này sẽ trình bày phương pháp khởi cục của Thời gia Kỳ Môn (theo giờ).

Phân loại theo phương pháp xếp bàn

Có hai phương pháp chính:

  • Chuyển bàn pháp (xoay bàn)

  • Phi bàn pháp (bay bàn)

Theo quan sát của tôi, phổ biến nhất hiện nay là Thời gia Kỳ Môn Chuyển bàn pháp. Vì vậy, trong các bài viết này, tôi sẽ dựa trên nền tảng của Thời gia Kỳ Môn Chuyển bàn pháp để giới thiệu cách khởi bàn. Còn các phương pháp khác như Niên gia, Nguyệt gia, Nhật gia, Khắc gia, Phân gia và Phi cung pháp sẽ được đề cập sau.

Trong bài viết này, chúng ta sẽ bắt đầu với vấn đề định cục.

Kiến thức cơ bản

Trong bài trước giới thiệu về Kỳ Môn Độn Giáp, có nói rằng Khương Thái Công đã định Kỳ Môn thành 72 cục. 72 cục này được hình thành như thế nào? Chúng ta đều biết một năm có 24 tiết khí, mỗi tiết khí kéo dài khoảng 15 ngày. Vì nghiên cứu Thời gia Kỳ Môn, mỗi ngày có 12 giờ, 5 ngày sẽ đi hết 60 giờ – vừa đúng một chu kỳ 60 hoa giáp (lục thập Giáp Tý). Do đó, 5 ngày là một nguyên. Ba nguyên (3 x 5 = 15 ngày) tương ứng với một tiết khí. 15 ngày này được chia thành Thượng nguyên, Trung nguyên, Hạ nguyên. Với 24 tiết khí, mỗi tiết khí có 3 nguyên: 3 x 24 = 72 cục. Vậy một năm có thể diễn ra 72 cục.

Sau này, thời nhà Hán, Trương Lương đã cải tiến Kỳ Môn thành 9 cục Dương Độn và 9 cục Âm Độn – đó chính là cơ sở để chúng ta xác định cục ngày nay.

Nguyên lý Âm – Dương Độn

Chia năm làm hai nửa:

  • Từ Đông chí (Đông chí) đến Hạ chí (Hạ chí) là nửa năm dương, vì Đông chí bắt đầu sinh một vạch dương → sau Đông chí thuộc Dương. Nửa năm này dùng Dương Độn 9 cục.

  • Từ Hạ chí đến Đông chí là nửa năm âm, vì Hạ chí bắt đầu sinh một vạch âm → sau Hạ chí thuộc Âm. Nửa năm này dùng Âm Độn 9 cục.

Khẩu quyết xác định cục

Dương Độn 9 cục – khẩu quyết

Đông chí, Kinh trập nhất thất tứ
Tiểu hàn nhị bát ngũ đồng suy
Xuân phân, Đại hàn tam cửu lục
Lập xuân bát ngũ nhị tương tùy
Cốc vũ, Tiểu mãn ngũ nhị bát
Vũ thủy cửu lục tam vi kỳ
Thanh minh, Lập hạ tứ nhất thất
Mang chủng lục tam cửu vi nghi
Thập nhị tiết khí tứ thời định
Thượng trung hạ nguyên thị căn cơ.

Giải thích: Đông chí và Kinh trập:

  • Thượng nguyên = Dương Độn 1 cục

  • Trung nguyên = Dương Độn 7 cục

  • Hạ nguyên = Dương Độn 4 cục

Tiểu hàn: Thượng nguyên = Dương 2, Trung nguyên = Dương 8, Hạ nguyên = Dương 5, v.v.

Âm Độn 9 cục – khẩu quyết

Hạ chí, Bạch lộ cửu tam lục
Tiểu thử bát nhị ngũ chi gian
Đại thử, Thu phân thất nhất tứ
Lập thu nhị ngũ bát tuần hoàn
Sương giáng, Tiểu tuyết ngũ bát nhị
Đại tuyết tứ thất nhất tương quan
Xử thử bài lai nhất tứ thất
Lập đông, Hàn lộ lục cửu tam
Thử thị Âm Độn khởi lệ pháp
Tiết khí di dời tế tâm tham.

Giải thích: Hạ chí và Bạch lộ:

  • Thượng nguyên = Âm Độn 9 cục

  • Trung nguyên = Âm Độn 3 cục

  • Hạ nguyên = Âm Độn 6 cục, v.v.

Bảng tra cục theo 24 tiết khí được trình bày để tiện tra cứu.

Định cục theo ngày và tiết khí

Khi khởi cục Kỳ Môn cho một ngày cụ thể, cục sử dụng liên quan đến:

  • Tiết khí mà ngày đó đang ở trong

  • Và ngày đó thuộc Thượng, Trung hay Hạ nguyên trong tiết khí đó.

Sắp xếp 60 chu kỳ Giáp Tý (Lục thập hoa giáp) theo từng nguyên 5 ngày, ta được 4 bộ Thượng – Trung – Hạ nguyên hoàn chỉnh (4 x 15 = 60 ngày). Từ đó xác định được ngày nào thuộc nguyên nào.

Quy luật xác định nguyên

  • Phù đầu (đầu nguyên): Thiên can của ngày đầu mỗi nguyên luôn là Giáp hoặc Kỷ.

  • Địa chi của ngày đầu Thượng nguyên luôn là Tý, Ngọ, Mão, Dậu.

  • Địa chi của ngày đầu Trung nguyên luôn là Dần, Thân, Tỵ, Hợi.

  • Địa chi của ngày đầu Hạ nguyên luôn là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

Tóm lại:

  • Ngày có can Giáp hoặc Kỷ là Phù đầu (ngày đầu nguyên).

  • Ngày có chi Tý, Ngọ, Mão, Dậu là ngày đầu Thượng nguyên.

  • Ngày có chi Dần, Thân, Tỵ, Hợi là ngày đầu Trung nguyên.

  • Ngày có chi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là ngày đầu Hạ nguyên.

Vấn đề siêu thần, tiếp khí, chính thụ

Do 24 tiết khí mỗi tiết tính 15 ngày → 24 x 15 = 360 ngày, nhưng thực tế Trái Đất quay quanh Mặt Trời hết 365 ngày + 5 giờ, không phải là một vòng tròn hoàn hảo. Mỗi tiết khí thực tế không đúng 15 ngày mà là 15,218 ngày. Vì vậy, ngày giao tiết khí không phải lúc nào cũng trùng với Phù đầu (ngày đầu Thượng nguyên). Có ba trường hợp:

  1. Siêu thần: Phù đầu đến trước ngày giao tiết.

  2. Tiếp khí: Phù đầu đến sau ngày giao tiết.

  3. Chính thụ: Ngày giao tiết trùng với Phù đầu.

Để giải quyết sự không đồng bộ giữa 60 hoa giáp (Thượng – Trung – Hạ nguyên) và thời điểm giao tiết khí, có ba phương pháp:

  • Trí nhuận pháp (Đặt nhuận)

  • Sai bổ pháp (Phá rời, bù đắp)

  • Mao Sơn bố cục pháp (Phương pháp bố cục của Mao Sơn phái)

Ví dụ xuyên suốt:
Thời gian tôi xếp bàn: 14 giờ 20 phút ngày 15/9/2022. Đổi sang tứ trụ: Nhâm Dần, Kỷ Dậu, Tân Mùi, Ất Mùi.


1. Trí nhuận pháp (Phép đặt nhuận)

Phần lớn các trường hợp, Phù đầu của Thượng nguyên không trùng với ngày giao tiết. Có thể chậm hơn 1–2 ngày, 4–5 ngày, nhiều nhất hơn 9 ngày. Khi chênh lệch giữa Phù đầu và ngày giao tiết vượt quá 9 ngày thì phải đặt nhuận.

Trí nhuận pháp nhấn mạnh rằng 60 hoa giáp phải đi hết từng vòng. Tam nguyên (Thượng – Trung – Hạ) thuộc tiết khí nào thì dùng đúng tam nguyên của tiết khí đó để khởi cục. Nếu tam nguyên của tiết khí trước chưa chạy hết mà đã sang tiết khí sau, thì khi khởi cục vẫn dùng tam nguyên của tiết khí trước.

Ví dụ: Ngày 9/5/2022 (Nhâm Tuất), là ngày thứ 5 của tiết Lập Hạ. Theo bảng, đáng ra phải dùng Thượng nguyên của Lập Hạ. Nhưng vì ngày Nhâm Tuất là ngày cuối thứ 2 của Hạ nguyên (thực tế thuộc Hạ nguyên của Cốc Vũ, tiết trước Lập Hạ). Do đó, theo Trí nhuận pháp, vẫn lấy Hạ nguyên của Cốc Vũ để khởi cục → Dương Độn 8 cục.

Phương pháp này được áp dụng liên tục cho đến khi sai số lên đến 9 ngày thì mới đặt nhuận (thường đặt nhuận tại hai tiết Mang Chủng trước Hạ chí và Đại Tuyết trước Đông chí). Nếu chưa đủ 9 ngày thì tiếp tục như vậy.

Ví dụ với ngày 15/9/2022 (Tân Mùi):
Đã qua Hạ chí, chưa đến Đông chí → thuộc Âm Độn.
Ngày Tân Mùi là ngày thứ 3 của Trung nguyên Bạch Lộ, đồng thời là ngày thứ 9 của tiết Bạch Lộ trong thực tế. Vì vậy, khởi cục bằng Trung nguyên của Bạch Lộ → Âm Độn 3 cục.


2. Sai bổ pháp (Phép phá rời – bù đắp)

Sai bổ pháp hiện được nhiều thầy dạy Kỳ Môn sử dụng nhất. Phương pháp này coi trọng việc kết hợp tiết khí với tam nguyên. Vì bước đi của tiết khí và lục tuần không đồng nhất, nên những ngày có xung đột sẽ bị “phá rời và bù đắp”. Ý nghĩa của “Sai bổ” là: lấy một phần của tiết khí này để bù vào khoảng trống của tiết khí kia.

Cách thực hiện: Dùng bảng tra để xác định ngày hiện tại thuộc Thượng/Trung/Hạ nguyên nào. Sau đó, căn cứ vào tiết khí thực tế đang diễn ra mà khởi cục đúng nguyên tương ứng của tiết khí đó.

Ví dụ 9/5/2022 (Nhâm Tuất):
Ngày này thuộc Hạ nguyên (của Cốc Vũ). Nhưng vì đã qua Lập Hạ 5 ngày, Sai bổ pháp sẽ khởi cục theo Hạ nguyên của Lập Hạ → Dương Độn 7 cục.
Đây là cách “phá” Hạ nguyên của Lập Hạ để bù vào khoảng thời gian mà lẽ ra Thượng nguyên của Lập Hạ phải là 5 ngày đầu.

Ví dụ 15/9/2022 (Tân Mùi):
Ngày này thuộc Trung nguyên của Bạch Lộ, nên khởi cục đúng Trung nguyên Bạch Lộ → Âm Độn 3 cục.


3. Mao Sơn phái bố cục pháp

Phương pháp của Mao Sơn phái tương đối đơn giản. Cách này chỉ coi trọng tiết khí tự nhiên, bỏ qua can chi của ngày. Nghĩa là khi một tiết khí bắt đầu, lập tức khởi cục bằng Thượng nguyên của tiết khí đó, rồi lần lượt Trung nguyên, Hạ nguyên. Nếu sang tiết khí tiếp theo mà Hạ nguyên của tiết khí cũ chưa kết thúc thì bỏ qua phần dư, bắt đầu tiết khí mới bằng Thượng nguyên. Nếu qua 15 ngày mà chưa sang tiết khí tiếp theo, thì tiếp tục dùng Hạ nguyên của tiết khí hiện tại.

Ví dụ 9/5/2022:
Dù là Hạ nguyên của Cốc Vũ, Mao Sơn pháp không quan tâm, chỉ xem đây là ngày thứ 5 của Lập Hạ → khởi cục Thượng nguyên Lập Hạ → Dương Độn 4 cục.

Ví dụ 15/9/2022:
Là Trung nguyên Bạch Lộ → khởi cục Trung nguyên Bạch Lộ → Âm Độn 3 cục.