Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh - Quyển 13
Quyển 13
CHIẾM TỪ TỤNG
Phàm việc tranh tụng, có người bất bình mà đi kiện người khác trước, có người bị kiện mà tìm cách kêu oan. Cần lấy:
Khai môn (6) làm quan hỏi án (quan tòa).
Trực Phù làm nguyên cáo (người kiện).
Thiên Ất (thường là sao Tâm hoặc chỉ người được giá trị phù? Ở đây theo ngữ cảnh: Thiên Ất là bị cáo – người bị kiện).
Kinh môn (7) làm thần tố tụng (thần kiện cáo).
Các trường hợp:
Nếu Khai môn và Kinh môn đều bị khắc (bởi ai đó): bị cáo thua.
Nếu cả hai đều khắc (đối phương?): nguyên cáo thua.
Nếu một khắc nguyên cáo, một khắc bị cáo: cả hai đều thua.
Tổng thể lấy cung rơi để quyết định.
Lại:
Khai môn sinh nguyên cáo, Kinh môn khắc nguyên cáo; hoặc Khai khắc nguyên cáo, Kinh sinh nguyên cáo.
Đối với bị cáo cũng xét tương tự (được sinh hay bị khắc).
Lấy sự vượng tướng, hưu tù của Trực Phù và Thiên Ất làm tiêu chí thắng thua: vượng tướng thì thắng, hưu tù thì bại. Cũng lấy cung rơi để quyết định.
CHIẾM KHỞI KIỆN VÀ TRÌNH TRẠNG (Đơn kiện)
Lấy Đinh (6) làm trạng (đơn kiện).
Chu Tước làm luận sư (thầy kiện, luật sư).
Đinh cũng là Chu Tước.
Nếu Chu Tước rơi vào cung dương can, hoặc cung rơi xung với Thiên Ngục Canh (庚), lại cưỡi thêm Cảnh môn (9), thì việc kiện ắt sẽ khởi phát.
Nếu Chu Tước rơi vào cung âm can: việc kiện càng lớn.
Nếu lâm vào cung hưu tù phế một: việc kiện sẽ kết thúc không khởi kiện.
Đối với trình trạng (nộp đơn):
Khai môn làm quan.
Cảnh môn làm văn trạng (đơn từ).
Cung Khai môn sinh cung Cảnh môn: tốt.
Cung Cảnh môn sinh cung Khai môn: không được chấp nhận (không chuẩn).
Cảnh khắc Khai: được chấp nhận.
Cảnh bị khắc (bởi Khai): không được chấp nhận.
Nếu Cảnh môn rơi cung vượng tướng: được chấp nhận.
Nếu rơi cung hưu tù phế một: không được chấp nhận.
Nếu vượng tướng mà sinh Khai môn: có thể được chấp nhận.
Nếu hưu tù phế một mà khắc Khai môn: không được chấp nhận.
CHIẾM QUAN SỰ (Việc quan, kiện tụng) THÚC GIẬT HAY HOÃN
Trực Phù làm quan trưởng.
Lục Đinh làm công văn (công hàm).
Trực Sứ làm sai dịch (công sai).
Nếu cung Trực Phù khắc cung Thiên Ất (bị cáo), Lục Đinh lâm vào nội địa (cung nội): việc thúc giục (đòi, triệu) hoãn.
Nếu Trực Phù khắc Thiên Ất, Trực Sứ lâm nội địa: việc thúc giục gấp.
Gặp thêm kích hình thì ý đồ xấu; có tam kỳ thì ý đồ tốt.
Nếu tương sinh: công sai và quan trưởng vui vẻ.
Nếu tương khắc: quan trưởng nổi giận.
Lại xem Lục Canh là Thiên Ngục: rơi hưu tù thì dễ kết thúc; rơi vượng tướng thì khó kết thúc.
Một thuyết: Lục Đinh lâm ngoại địa thì hoãn, Trực Sứ lâm ngoại địa thì gấp.
CHIẾM HÌNH NGỤC NẶNG NHẸ (Tù tội nặng nhẹ)
Lấy bản mệnh năm sinh và nhật can rơi cung nào:
Sao vượng, môn cát, có tam kỳ, cách cát: quan viên bị giáng chức, người thường (thứ dân) tội nhẹ.
Sao không vượng tướng, có tam kỳ, cát môn; hoặc tam kỳ, cát môn được sao vượng tướng kiêm cát môn, cách cát: đều chủ tội nhẹ, chỉ phạt đến thân.
Có tam kỳ, cách cát nhưng không được cát môn và sao vượng tướng; hoặc sao vượng tướng nhưng không được cát môn, tam kỳ: đều chủ tội nhẹ.
Nếu sao không vượng tướng, môn không cát, không tam kỳ, cách hung: chủ đại hung.
Nếu nhật can và năm sinh lại phạm kích hình: có hình phạt đau đớn.
CHIẾM TỘI NẶNG NHẸ
Khai môn làm quan hỏi án.
Lục Tân (辛) làm người có tội (tội nhân).
Lục Nhâm (壬) trong lục giáp tuần làm Thiên Lao (nhà tù trời).
Nếu cung Khai môn khắc cung Địa Tân (Tân dưới đất), trên Tân lại có Lục Nhâm lâm: phòng có tai họa ngục tù. Thiếu một trong hai thì vô hại.
Nhâm là Thiên Lao:
Giáp Thìn tuần: ngày Nhâm Tuất, Tuất là Thiên Lao.
Giáp Tý tuần: ngày Nhâm Thân, Thân là Thiên Lao.
Các trường hợp khác suy tương tự.
Nếu chi của Lục Nhâm bị Thiên bàn khắc, lại được Khai, Sinh nhị môn thì tốt.
CHIẾM TỘI NHÂN ĐƯỢC THA THÍCH
Lấy Địa bàn Lục Tân làm tội nhân.
Xem được sao gì, can gì, vượng hay không.
Nếu trên cưỡi cát tinh, cát môn, cát cách, hoặc khắc cung Khai môn, hoặc tương sinh tương hợp với cung Khai môn: được tha nhanh.
Nếu không đủ các điều trên: hơi chậm.
Nếu cung Khai môn khắc cung Địa Tân, lại thêm hưu tù: chủ vướng mắc, lưới thấp thì không được tha; lưới cao thì được tha.
CHIẾM XUẤT NGỤC (Ra tù)
Nhâm là lao ngục. Xem can của địa bàn mà Nhâm gia lên làm tội nhân.
Cần can địa bàn khắc chi của Lục Nhâm (chi mà Nhâm đắc), lại được ba cửa Hưu, Khai, Sinh thì sẽ ra.
Lấy chi bị khắc làm ngày ra.
Phải được giờ Lục Đinh, hoặc cung Lục Đinh không phải cung tội nhân, can chi lại được tam kỳ thì mới ra khỏi ngục.
CHIẾM QUAN SỰ LIÊN LỤY (Bị kéo vào vòng lao lý)
Nhật can của ngày làm người có việc.
Canh làm Thiên Ngục.
Tân làm Thiên Đình.
Nhâm làm Thiên Lao.
Nhật can của bản nhân lấy Địa bàn làm chủ. Ba sát Canh, Tân, Nhâm lấy Thiên bàn để định.
Nếu phạm một sát, cùng cung với địa bàn nhật can: ắt có liên lụy.
Lại gặp hình kích: ắt có hình phạt.
Gặp Thiên Võng: có gông cùm xiềng xích vào thân.
Lại có thêm các cách hung, sát hung: liên lụy rất nặng.
Nếu có tam kỳ, cát môn, cách cát, cát tinh: không ngại, tuy có liên lụy nhưng không thành hung.
Nếu không phạm Canh, Tân, Nhâm: ắt không bị liên lụy.
CHIẾM KHẨU THIỆT QUAN TỤNG (Cãi cọ, kiện cáo)
Lúc này (giờ xem) gặp môn sinh cung hợp cách cát, hoặc can trên sinh can dưới, hoặc can ở cung đắc lệnh khắc can trên, hoặc cung khắc môn: thì vì việc không đúng mà được lý, có quan quý nhân giúp đỡ, được lợi về tài.
Nếu địa bàn kỳ nghi lâm cung suy mộ, gặp can trên khắc can dưới, và môn khắc cung hợp cách hung: thì khẩu thiệt nặng, đến nỗi phá tài lo sợ.
Gặp Tâm, Khai sinh cung: có quý nhân giúp.
Gặp Anh, Cảnh sinh cung: có sức mạnh của văn thư.
Gặp Sinh, Tử môn sinh cung: được lợi về ruộng đất, phòng ốc.
Như trên, môn sinh cung thì tốt, môn khắc cung thì xấu, suy ra.Nếu các sao tỷ hòa, hoặc trên sinh dưới, dưới sinh trên: thì nên hòa giải.
Nếu gặp tử tuyệt mà bị xung khắc: vì kiện tụng mà phá nhà, hại thân.
CHIẾM BỊ TRA HỎI (PHỎNG VẤN, THẨM TRA) CÁT HUNG
Phàm quan lại, hào cường bị phỏng vấn (tra hỏi, thanh tra), cát hung thế nào, chỉ xem cung bản mệnh năm sinh và nhật can, trên cung có sao môn gì lâm.
Nếu sao vượng, môn cát, có tam kỳ, cách cát: quan dân đều vô sự.
Nếu không vượng tướng mà có tam kỳ, cát môn và các cách cát; hoặc không có tam kỳ, cách cát mà được cát môn, sao vượng tướng; hoặc không có cát môn mà sao vượng tướng lâm tam kỳ, cách cát: quan dân đều chủ tang vật ít, tội nhẹ.
Có tam kỳ nhưng môn không cát, sao không vượng; sao vượng nhưng không được cát môn, tam kỳ và cách cát; hoặc được tam kỳ, cách cát nhưng sao không vượng, môn không cát: tội nặng tang nhiều, liên lụy đến vợ con.
Sao không vượng, môn không cát, cách lại hung, lại không có tam kỳ: đều chủ tổn thương (thương môn). Nếu bản mệnh nhật can lại phạm kích hình: ắt chịu hình phạt.
CHIẾM HÒA GIẢI (Hòa sự)
Lấy Canh (7) và Bính (3) làm hai bên đang kiện tụng (tương cấu chi nhân).
Lấy Giáp làm bên chủ hòa giải (nhân chủ hòa), vì Giáp là Thiên Phúc, lại là đầu của thập can, là phúc tinh cho hai bên.
Phải lấy Giáp Tý Mậu mới được tính, các Giáp khác không dùng.
Xem cung Giáp Tý Mậu rơi:
Nếu cùng sinh cả hai bên hoặc cùng khắc cả hai bên: thì xử sự công bằng, hòa giải thành.
Nếu sinh một cung, khắc một cung: ắt có thiên vị, không thể hòa giải.
Lại xem: nếu Giáp ở cung vượng tướng, còn Canh, Bính ở cung hưu tù, thì họ cũng chẳng thể không hòa.
Các bài liên quan (toàn bộ 22 quyển):
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 1
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 2
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 3
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 4
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 5
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 7
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 8
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 9
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 10
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 11
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 12
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 13
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 14
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 15
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 16
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 17
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 18
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 19
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 20
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 21
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 22
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 23
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 24
