Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh - Quyển 4
Quyển 4
CHIẾM THIÊN THỜI (Bói thời tiết)
Có cư dân mạng đặt câu hỏi trực tuyến liên quan đến vấn đề của Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh. Dưới đây, chuyên gia của Diễn đàn Dịch Học sẽ giải đáp thắc mắc liên quan đến vấn đề này, hy vọng sẽ hữu ích cho bạn.
Quyển 4
CHIẾM THIÊN THỜI
Khái quát:
Trời đất mưa gió trong chín độn,
Điềm vạch mối manh, nhiệm khó lường.
Cát hung hối hận từ sinh khắc,
Dò xét móc xa, lý tự nhiên.
Sáu nghi ba kỳ phân thuận nghịch,
Tám môn chín sao lặn hết vòng.
Nếu cùng cùng lý âm dương ấy,
Hỏi đến tiên trời với đất tiên.
Luận theo số cục:
Hai, ba, năm, tám nhiều mưa gió,
Bốn, chín trong cục nhật xuân dương.
Một, sáu, bảy phòng âm trệ khí,
Xét kỹ cát hung trong cách tràng.
Mùa hè nóng bức chẳng bằng xuân,
Ba bốn hai bảy sợ nhiều kinh.
Chẳng đoái mưa sa năm sáu chín,
Trong cục một tám ngày rực vàng.
Thu sang Khôn Cấn ánh dương dời,
Càn Đoài Tốn cung mưa gió rầu.
Hai ba bốn chín mưa mờ mịt,
Khảm nếu gặp thì chớp lóe sa.
Theo Trực Phù và sao:
Trực Phù Bồng Nhuế chẳng nên Đông,
Mù mịt âm vân, nhật chẳng hồng.
Năm sáu ba trong nhiều gió tuyết,
Bốn bảy tám cục tốt trời trong.
Cửu độn (chín cách độn) và thời tiết:
Nhất độn: Ất, Bính gia Hưu môn, trời quang mây tía đẹp lòng người. Thu có gió nhẹ thấu xương, Đông mưa tầm tã ảm đạm.
Nhị độn: Ất, Bính tại Khai môn, xuân chiều thu sớm nhiều bị hình phạt (che khuất?).
Hạ độn (Tam độn, Tứ độn): Bính, Canh, Hưu môn, nếu gặp mùa Hè thì mưa rào từng trận. Gặp thu thì gió cuốn mặt đất, xuân thu đông đều trời quang ráo.
Ngũ độn: Đinh, Quý gia Hưu môn, xuân hè bay cát, ngày càng tối. Cảnh đông bỗng chốc thành mưa tuyết, thu cầu vồng chớp sáng rồi tan mây.
Lục độn: Bính, Mậu gia Càn cung, hè mưa thu gió xuân rực hồng. Gặp thêm Kinh, Trụ lâm đông tiết, cuồng phong tạt tạt tuyết bay không.
Thất độn: Tân gia Ất lên Cấn, cuốn đất tung trời trong xuân hè. Mưa gió cùng gặp mùa thu tụ, đông tan sương ấm áp hây hây.
Bát, Cửu độn: Tuyết cung sáu bảy, mưa gió long hổ cũng như nhau. Xét kỹ lý vi tế phân hung cát, chẳng gặp môn phù thì chớ nên theo.
Khắc ứng theo mây:
Thiên Bồng bay vào cung Cấn, đông bắc một cục mây đen cắm.
Trực Sứ Hưu gia lên Thiên Nhâm, phương Đông hơi vàng đầy lầu các.
Sinh, Nhâm gia lên cung Khảm, phương Bắc mây vàng nổi khung trời.
Mây xanh đông bắc thực hoa lệ, Cầm, Nhuế gia vào phân cùng Nhâm.
Xung, Thương gia Cấn, Tốn sinh, đông bắc mây đen pha tím vàng.
Chính Bắc mây năm sắc đều lờ mờ, đông nam tây bắc hết thảy hào quang.
Cấn cung Đỗ, Phụ Trực Phù lâm, khói mù mịt mịt khí tía sinh.
Phương đông bắc sinh mây vần vũ, phương Bắc lại có một làn nhẹ trong.
Anh, Cảnh gia lên Càn vị thượng, tây bắc mây mùa ánh đỏ rực.
Đông trắng bắc vàng xanh ở đó, Trực Phù khắc ứng lượng vô cùng.
Nhuế, Cầm nếu đến Hưu môn, bắc nổi hồng quang, đông mây nhạt.
Khôn cung thượng có khí xanh lam, tây bắc khói bụi mù tía nổi.
Kinh, Trụ Trực Phù lâm Chấn địa, mây trắng pha xanh.
Hạ tứ phía phù vân nổi lên, trận mưa dông bố trận kinh hoàng.
Tâm, Khai trên Tốn gia Trực Phù, bốn phía sinh mây khí chướng ma.
Bắc mù, nam đen, tây tía, Khôn Cấn mây vàng chẳng bao nhiêu.
Hưu, Bồng trên Ly Trực Phù bức, phương Nam khí đen mờ dần hồi.
Tây có mây xanh, đông ngập nước, bắc hồng tím lượn quanh.
Trực Phù Chấn vị gia Kinh môn, biếc lục từ tây mây xám xanh.
Đông trắng hướng mây hòa bốn tán, khéo ứng mây sinh ở phương bắc.
Khôn Cấn trong cung gặp Đỗ, Phụ, lam biếc lục nhạt bốn phương nhiều.
Nhạt hồng ở Đoài, vàng ở Tốn, điểm điểm lốm đốm chẳng sai bao.
Cảnh gia Anh Đoài nổi hồng quang, khí trắng mờ mờ đông bắc phương.
Tốn thượng vàng nhạt thêm màu lục, như gặp sinh vượng nguyệt hoa cương.
Nhuế, Cầm nhập Chấn, Xung, Thương, đông nổi mây vàng kiêm bạch quang.
Nam Lĩnh (núi phía Nam) gấm trắng pha hồng sắc, tây nam tây bắc xám xịt xanh.
Kinh cư Thiên Phụ tố la vân, nam có hồng quang trắng nhẹ nâng.
Càn thượng thanh vân thường tụ tán, khôn phương ảm đạm khói trầm luân.
Tương sinh tương khắc xem màu sắc, vượng tướng hưu tù biện thực hư.
CHIẾM TÌNH (Bói trời nắng)
Để chiếm trời nắng, lấy Thiên Phụ (Tinh 4 - tức sao gió) và Thiên Anh (Tinh 9 - tức sao lửa) làm chủ. Vì Thiên Phụ là Phong Bá (thần gió), Thiên Anh là Hỏa Thần (thần lửa). Mây mưa nhờ gió mà tan, nhờ lửa mà nắng.
Nếu Thiên Phụ, Thiên Anh cưỡi vượng tướng, rơi vào cung Ly (số 9), hoặc khắc can chi của ngày giờ, chủ trời nắng.
Nếu Thiên Anh cưỡi vượng tướng, rơi vào cung 3 (Chấn) hoặc 4 (Tốn), hoặc khắc can chi ngày giờ, cũng chủ nắng.
Huyền Vũ (thủy thần) và Bạch Hổ (kim thần, chủ mưa gió) cần xem thêm bàn trên (bát quý thần), không gì là không nghiệm. Ngày tháng cũng lấy sao hỏa thần, phong bá rơi vào cung nào, can gì mà định.
CHIẾM VŨ (Bói mưa)
Để chiếm mưa, lấy Thiên Trụ (Tinh 7) làm Vũ Sư (thần mưa), Thiên Nhuế (Tinh 2) làm Thiểm Điện (chớp), Thiên Phụ (Tinh 4) làm Phong Bá (thần gió), Thiên Xung (Tinh 3) làm Lôi Tổ (thần sấm), Thiên Bồng (Tinh 1) làm Thủy Thần (thần nước), là mây mù. Hai can Nhâm, Quý cũng là thủy thần.
Thiên Bồng du tại các cung Khảm (1), Đoài (7), Chấn (3), cưỡi Nhâm Quý du tại các cung Khảm, Đoài, Chấn; hoặc Thiên Trụ, Thiên Xung cưỡi Nhâm Quý nhị can du tại ba cung Khảm, Đoài, Chấn, đều chủ mưa.
Lại nếu Thiên Phụ, Thiên Anh chỗ rơi ở bàn trên khắc bàn dưới, ắt mưa sấm giao tác.
Lại xem Thiên Trụ v.v. rơi vào cung nào được can chi gì để định ngày giờ mưa. Gần Trực Phù thì mưa nhanh, xa thì mưa chậm.
Du tại cung Khôn (2) chủ mây đặc không mưa; dù có du Khảm, Đoài, Chấn mà không cưỡi thủy thần thì cũng không mưa.
Ví dụ: Ngày Mùi, giờ Tý, Thiên Xung làm Trực Phù, Giáp Thìn Nhâm ở cung 2, trên cưỡi Lục Nhâm, dưới lâm địa bàn Thiên Xung, trên dưới đều là thủy mộc chi thần. Can giờ Nhâm Tý, Thiên Trụ ở cung 7 làm Trực Phù, chủ đương ngày có mưa.
Ví dụ: Thu phân, từ Đoài khởi Giáp, đếm đến Nhâm là cung 7, cho nên gọi là Thiên Đoài, là Đoài Khôn Trực Phù tương liên, cho nên đương ngày mưa.
CHIẾM TUYẾT (Bói tuyết)
Tuyết là sự ngưng kết của âm, có thủy và hàn khí. Hai cung Càn (6) và Đoài (7) chủ quản.
Hoặc Thiên Tâm (Tinh 6) cưỡi Nhâm Quý nhị can đến Đoài, hoặc Thiên Trụ (Tinh 7) cưỡi Nhâm Quý đến Càn, đều chủ tuyết.
Mỗi cái lấy can chi ở cung rơi để định ngày giờ có tuyết.
Các bài liên quan (toàn bộ 22 quyển):
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 1
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 2
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 3
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 4
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 5
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 7
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 8
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 9
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 10
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 11
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 12
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 13
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 14
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 15
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 16
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 17
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 18
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 19
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 20
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 21
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 22
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 23
- Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh Quyển 24
