Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh - Quyển 5

Quyển 5

CHIẾM TUẾ THỜI PHONG KHIẾM NIÊN

Theo một sao ở Trung cung:

  • Nhất Bạch (1) ở Trung cung: Nửa phần nhiều mưa, tuyết, sương, móc; ngũ cốc phong đăng, nhân dân vô tai, quốc thái dân an.

  • Nhị Hắc (2) ở Trung cung: Giao tiết nhiều âm u, mưa gió, khói mù; nhân khẩu có tai, quốc gia có hoạn vật; phương Tây Nam chủ hoang.

  • Tam Bích (3) ở Trung cung: Nhiều sấm gió, vật mất mùa; Đông Nam chín, Tây Bắc hoang; dân có nạn phong hàn, nhiều trộm cướp.

  • Tứ Lục (4) ở Trung cung: Có nước mưa; Giang Nam chín, Giang Bắc hoang; nhân dân có tiểu tai.

  • Ngũ Hoàng (5) ở Trung cung: Mưa nắng không đúng lúc, người nhiều ôn dịch; các nơi mất mùa được mùa không đều.

  • Lục Bạch (6) ở Trung cung: Mưa nắng đúng lúc, quốc thái dân an.

  • Thất Xích (7) ở Trung cung: Dân bị hạn hán, ngũ cốc không chín; phương Tây hoang, phương Bắc an; Giang Nam bất lợi.

  • Bát Bạch (8) ở Trung cung: Nước mưa nhiều, ngũ cốc chín, tám phương yên ổn, quốc thái dân an.

  • Cửu Tử (9) ở Trung cung: Gió hòa mưa thuận, quốc thái dân an; Giang Nam hạn nhẹ.

Nếu Tam Bạch (1,6,8) ở các cung Tốn (4), Ly (9), Khôn (2) thì phương Nam chín; ở các cung Càn (6), Khảm (1), Cấn (8) thì phương Bắc phong; ở các cung Chấn (3), Đoài (7), Trung cung (5) thì thiên hạ đều tốt đẹp.

CHIẾM TRONG NĂM MÙA MÀNG (Chiếm tuế nội phong khiểm)

Ngày Lập Xuân, lúc giao tiết Lập Xuân, xem Cửu Cung để phân chia Cửu Châu, thấy ở Cửu Châu có sao gì, kỳ gì thì biết.

  • Cung Khảm (1): Châu Ký, phân dư Tấn, Ngụy.

  • Cung Cấn (8): Châu Duyện, phân dư Hàn, Trịnh.

  • Cung Chấn (3): Châu Thanh, phân dư Tề.

  • Cung Tốn (4): Châu Từ, phân dư Lỗ.

  • Cung Ly (9): Châu Lương, phân dư Ngô, Việt.

  • Cung Khôn (2): Châu Kinh, phân dư Sở.

  • Cung Đoài (7): Châu Ích (Lương Ích), phân dư Vệ.

  • Cung Càn (6): Châu Ung, phân dư Tần.

  • Trung cung (5): Châu Dự, phân dư Tống.

  • Sao Thiên Bồng (1) lâm phương nào: chủ ôn dịch vào mùa xuân, trăm họ ly tán; mùa hạ nước cuốn trôi. Có kỳ, thần cứu thì giảm phân nửa.

  • Sao Thiên Nhuế (2) lâm phương nào: Nếu có kỳ, thần gia vào thì người không bị tai, thu hoạch được bảy phần. Nếu gia vào hung tú (sao xấu) thì người bị dịch, vật chết, ngũ cốc không thành.

  • Sao Thiên Xung (3) lâm phương nào: Tốt. Nếu có kỳ gia vào thì ngũ cốc nửa phần phong, chỉ nên quả thực. Xuân hè người vật bị thương tổn.

  • Sao Thiên Phụ (4) lâm phương nào: Ở chỗ tốt thì ngũ cốc đại thành, nhân dân an lạc. Nếu gia vào hung tú, chủ gió lớn tràn lan tổn thương.

  • Sao Thiên Cầm (5) lâm phương nào: Ở chỗ tốt, chủ ngũ cốc đại phong, người vật phồn thịnh. Nếu gia vào hung tú, chủ quan trưởng không yên, quý nhân di động, đầu hạ có ôn tai.

  • Sao Thiên Tâm (6) lâm phương nào: Có tú tốt, chủ mùa thu lúa chín, quan trưởng quý nhân thường được ơn mừng. Nếu gia vào hung tinh, thì xuân trồng nhiều trở ngại, hạ thu nước úng.

  • Sao Thiên Trụ (7) lâm phương nào: Ở chỗ tốt thì nửa phần chín, nhân dân bị ôn dịch. Gia vào hung tú, có tai họa châu chấu, hổ mang, lửa cháy, mùa thu đông càng dữ. Nếu có tam kỳ, đức thì còn có phúc dư.

  • Sao Thiên Nhâm (8) lâm phương nào: Đại hữu cát khánh. Kỳ thần gia vào chủ sinh cỏ linh chi, điềm lành, và quý nhân tại vị. Gia vào chỗ hung, ngũ cốc nửa phần chín, người lìa tai nhưng không chết.

  • Sao Thiên Anh (9) lâm phương nào: Cũng có điềm lành. Được sinh vượng địa thì ngũ cốc chín, nhân dân an khánh. Ở chỗ khắc hoặc hung tú gia lâm, chủ hạn hán tai ương, xuân trồng hè khô héo.

Phàm chỗ Thiên Ất (sao Thái Ất? tức giá trị phù) ở, thì việc năm ấy tốt lành.

CHIẾM RUỘNG LÚA (Chiếm điền hoa)

Phàm chiếm ruộng lúa, lấy cửa Hưu (休) hợp với Mộc, Thổ ở trên là tốt. Lại được tam kỳ và can thấy hợp thì có lợi. Năm mùa phong hay kém chuyên xem sao Thiên Nhâm (8). Nếu Thiên Nhâm rơi vào cung Cấn (8), Chấn (3) thì chủ năm phong. Lại được Thanh Long, Lục Hợp, Công Tào, Thái Xung, chủ bốn dân an cư lạc nghiệp. Nếu Thiên Nhâm không rơi vào hai cung Cấn, Chấn thì chủ mùa màng thất bát. Lại dùng quý thần, nguyệt tướng phân biệt hạn hán hay úng lụt. Chỗ Thiên Nhâm có Truyền Tống, Thiên Hậu thì chủ lụt.

Lại: Sinh môn chủ lúa mạch (mạch), Thương môn chủ thóc gạo (cốc). Xem tam kỳ, Thái Thường, Công Tào, Quý Nhân ở cung Sinh môn thì thu hoạch mạch; ở cung Thương môn thì thu hoạch cốc.

Chiếm trồng cây sống chết: Lấy Thiên Xung (3) làm hoa cỏ, Thiên Phụ (4) làm cây cối, mỗi loại xem cung rơi. Vượng tướng chủ sống, hưu tù chủ chết; sinh là sống, khắc là chết; cách cát thì sống, cách hung thì chết. Vượng tướng, cát cách sinh thì cây cỏ tươi tốt; hưu tù, hung cách khắc thì cây cỏ khô héo. Cát hung nửa nửa thì trước tốt sau xấu, hoặc trước xấu sau tốt. Nhâm, Quý, Mậu, Kỷ đến sinh thì sống, không sinh thì chết. Lại: ba (3) là sinh, năm (5) là chết.

CÁCH KHÁC CHIẾM RUỘNG LÚA

Lúc này (giờ chiếm) hợp với cửa Sinh (生), Hưu (休) cùng Ất, Bính, Đinh (tam kỳ), và lục nghi lâm trường sinh, vượng, lộc chi hương mà hợp cách cát, thì năm đó được mùa lớn.

Nếu hợp với cửa Cảnh (景), Anh (英), Tâm (心), Khai (開) mà gia lên cung Thổ Mộc, hoặc môn khắc cung, hoặc can trên khắc can dưới, thì ắt không có thu hoạch.

  • Nếu Mộc tinh (sao Mộc) khắc cung, thì nhiều sâu bọ và phong tai.

  • Nếu Hỏa tinh, Kim tinh khắc cung, thì nhiều hạn hán, hoặc bị gió vàng (金风) làm hại.

  • Nếu Thủy tinh nhiều Nhâm Quý, hoặc ngày giờ đều là thủy, hoặc âm tinh, âm môn gia lên âm cung, thì ắt nhiều nước mưa, nạn úng lụt liên miên.

  • Nếu các tinh khắc chế hoặc cửa Sinh, Tử khắc cung, thì năm đó chưa chín.

  • Nếu môn khắc cung, hoặc gặp Canh, Tân tương chế, thì dù có thu cũng ắt có trộm cướp.

  • Nếu hợp cách hung ở mệnh cung, như mộ tuyệt hoặc Chu Tước, thì vì ruộng đồng sinh ra phá tài quan sự.

CHIẾM CHÂU CHẤU (Hoàng nam)

Cửa Tử (死), Kinh (驚), Đỗ (杜), Thương (傷) lâm nhật can thì châu chấu đến; không phải thế thì không đến.

CHIẾM LỢI TẰM (Chiếm tàm lợi - nuôi tằm)

Lúc này được cát tinh, can chi, môn, cung tương sinh, gia lâm cung Kim, Mộc mà hợp cách cát, dưới không khắc trên, thì có lợi mười phần.

Nếu gặp cách hung, môn bách (môn khắc cung) gia lên cung Kim, Mộc, trên dưới tương khắc, thì ắt không có lợi.

Nếu hợp cách hung mà được môn sinh cung, hoặc hợp cách cát mà được môn khắc cung, thì chỉ có lợi năm phần.

CÁCH KHÁC CHIẾM LỢI TẰM

Tam kỳ, cát môn, cát tú đầy đủ ở cung Kim, Mộc là tốt, cần phải không khắc cung trên và môn là lành.

 

Các bài liên quan (toàn bộ 22 quyển):

Nếu cát môn, tinh, kỳ đều không đến cung Kim, Mộc, lại còn khắc chính cung tinh và môn, thì thu hoạch ít.