BÀN VỀ NGUYÊN LÝ SẮP XẾP TAM KỲ LỤC NGHI TRONG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP

BÀN VỀ NGUYÊN LÝ SẮP XẾP TAM KỲ LỤC NGHI TRONG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP

Hôm nay, một người bạn học Dịch hỏi tôi về vấn đề thứ tự sắp xếp Tam Kỳ, Lục Nghi trong Kỳ Môn Độn Giáp: "Tại sao lại là 'Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, Đinh, Bính, Ất' mà không phải là 'Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, Ất, Bính, Đinh'?"

Trước đây cũng có học trò và bạn bè hỏi cùng một câu hỏi, tôi đã nhiều lần giải đáp riêng. Nay tôi viết một bài viết nhỏ để trình bày thống nhất vấn đề này.

Về phương pháp sắp xếp thuận nghịch của Kỳ và Nghi, nhiều người cùng sở thích đã giải thích từ nhiều góc độ khác nhau. Có người quá phức tạp, có người quá giản lược, hầu như chưa có đáp án thỏa đáng. Thậm chí có người còn cho rằng đây là bí mật cao cấp của Kỳ Môn Độn Giáp, lấy cớ không thể truyền ra ngoài. Những điều như vậy, không những không giải quyết được vấn đề học thuật mà còn khiến mọi người lún sâu vào mê vụ.

Về thứ tự sắp xếp "Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, Ất, Bính, Đinh", gần đây có người đưa ra quan điểm này. Thực ra nó không phải là cây không có gốc. Từ thời Thanh, học giả, thuật số gia nổi tiếng Kỷ Đại Khuê đã chủ trương quan điểm này, cho rằng Kỳ và Nghi hễ thuận thì cùng thuận, hễ nghịch thì cùng nghịch, và ông đã chứng minh, coi đó là bí quyết riêng và ra sức quảng bá. Thực chất đều là chưa nắm được cơ quan chân chính của Độn Giáp, khó mà tin theo.

Thứ tự sắp xếp Tam Kỳ, Lục Nghi từ xưa đến nay luôn là "Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, Đinh, Bính, Ất". Ở đây có thể khẳng định rằng thứ tự này là đúng. Chỉ là phần lớn mọi người chỉ biết là như vậy mà không biết tại sao lại như vậy. Chính vì thế mới nảy sinh thắc mắc "Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, Ất, Bính, Đinh". Đây là một sai lầm do kinh nghiệm: trong quá trình học bố cục ban đầu, mọi người đều sắp xếp Tam Kỳ Lục Nghi theo thứ tự "Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, Đinh, Bính, Ất", nhưng lại không tách bạch riêng Tam Kỳ và Lục Nghi.

Trong Kỳ Môn Độn Giáp, Tam Kỳ và Lục Nghi vừa là một thể thống nhất, vừa là mỗi hệ thống riêng biệt. Đây không phải là bí mật gì, thực ra đều theo đúng thứ tự vốn có của Thập Can: "Giáp, Ất, Bính, Đinh" là một phần, "Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý" là một phần khác; chúng tự vận hành theo quy tắc riêng trong Lạc Thư Cửu Cung.

Nguyên lý sắp xếp Tam Kỳ Lục Nghi trong Kỳ Môn Độn Giáp

Bởi vì Giáp và Mậu đồng cung, khi bố cụ:

  • Bước thứ nhất: bắt đầu từ Giáp, theo thứ tự "Ất, Bính, Đinh" mà bay nghịch đối với Dương Độn, bay thuận đối với Âm Độn để bố trí Tam Kỳ.

  • Bước thứ hai: gặp Mậu thì hoàn nguyên (Giáp Mậu đồng cung), trở về điểm xuất phát, từ Mậu trở đi, theo thứ tự "Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý" mà bay thuận đối với Dương Độn, bay nghịch đối với Âm Độn để bố trí Lục Nghi.

Như sách Độn Giáp Diễn Nghĩa viết: "Phàm bố cục, sau Đông chí là Dương Độn, thì thuận bố Lục Nghi, nghịch bố Tam Kỳ; sau Hạ chí là Âm Độn, thì nghịch bố Lục Nghi, thuận bố Tam Kỳ. Phép đó: từ Giáp đến Quý (mười can), vẫn theo thứ tự mà đi, tùy theo cục thuận hay nghịch. Người xưa trước hết bố Tam Kỳ, sau bố Lục Nghi; ngày nay đảo ngược lại. Bởi vì lấy Lục Giáp làm Lục Nghi mà bố cục, và khi bố Tam Kỳ cũng lấy thứ tự Đinh, Bính, Ất, đều là phương pháp nhanh. Ví dụ như Dương Độn cục 2: cung Khôn khởi Giáp Tý, nghịch bố Tam Kỳ, thuận bố Lục Nghi – Giáp Tý ở Khôn, Ất ở Khảm, Bính ở Ly, Đinh ở Cấn; gặp Mậu thì hoàn nguyên, Giáp Tý Mậu vẫn ở Khôn, Giáp Tuất Kỷ ở Chấn, Giáp Thân Canh ở Tốn, Giáp Ngọ Tân ở Khôn (ký), Giáp Thìn Nhâm ở Càn, Giáp Dần Quý ở Đoài..."

Cổ nhân đã có ví dụ rõ ràng như thế, nhưng người đời sau đọc sách cẩu thả đến nỗi sinh ra hoài nghi, do dự không tiến, thật đáng thở dài.

Còn về nguyên lý tại sao Dương Độn thì thuận bố Lục Nghi, nghịch bố Tam Kỳ; Âm Độn thì nghịch bố Lục Nghi, thuận bố Tam Kỳ, đều nằm trong hình này. Người nào có tâm ắt sẽ đạt được điều mình muốn.

 

Các bài liên quan: