KỲ MÔN ĐỘN GIÁP BÍ KÍP ĐẠI TOÀN - QUYỂN 15: TAM KỲ NHẬP MỘ CA
KỲ MÔN ĐỘN GIÁP BÍ KÍP ĐẠI TOÀN - QUYỂN 15: TAM KỲ NHẬP MỘ CA
TAM KỲ BÁT MÔN (Ba kỳ, tám cửa)
Ất đến cung 6, 7 (Càn, Đoài) tự khó khăn, Bính Đinh lâm cung 1 (Khảm) chẳng thể xem.
Trụ, Tâm đến cung 9 (Ly) đều khó dùng, cũng kỵ Kinh môn, Khai môn chớ tiến lên.
Anh, Cảnh biết chắc lo ở cung Khảm, Hưu môn gặp cung 2, 8 (Khôn, Cấn) là đầu mối tốt.
Tử môn, Sinh môn, Nhuế, Nhậm ở cung 3, 4 (Chấn, Tốn), Xung, Thương ở cung 6, 7 (Càn, Đoài) không lời hư.
Đỗ, Phụ cần biết cũng ở cung 6, 7, nếu người hiểu được điều này thì thấu suốt cửa trời.
MÔN BÁCH CA (Bài ca cửa ép bức)
Kinh môn, Khai môn ở cung 3, 4 (Chấn, Tốn), Hưu môn lâm cung 9 (Ly).
Thương môn, Đỗ môn còn quay về cung 2, 8 (Khôn, Cấn).
Tử môn, Sinh môn xếp đến cư ngụ đầu (cung 1 Khảm? Ý nói Tử, Sinh ở cung 1? Cần hiểu: Sinh môn ở cung 8 Cấn, Tử môn ở cung 2 Khôn? Thực tế ca nguyên bản: "生死排來居第一" - cung 1 Khảm là Hưu, không phải Tử Sinh. Có thể ý nói Tử Sinh xếp vào cung Khảm? Nhưng theo lý, Tử môn Khôn, Sinh môn Cấn. Dịch sát: "Tử Sinh sắp xếp đến ở cung thứ nhất" - cung 1 là Khảm, nhưng Tử Sinh không ở Khảm. Có lẽ ca từ cổ sai hoặc cần hiểu "đệ nhất" là quan trọng nhất. Tạm dịch nguyên văn.)
Cảnh môn ở cung 6, 7 (Càn, Đoài) tổng cũng giống như vậy.
Cửa lành bị ép thì điều lành chẳng thành, cửa dữ bị ép thì họa chồng chất họa.
TAM KỲ NHẬP MỘ CA (Bài ca Tam kỳ vào mộ)
Tam kỳ vào mộ, trăm điều chẳng nên.
Ất, Bính lâm cung Càn (cung 6) xin hãy tránh.
Đinh kỳ, Ất Mùi lâm cấn thổ (cung 8).
Các việc làm đều nên nghỉ hết.
KỲ MÔN CÁT CÁCH (Các quẻ tốt)
"Thiên Độn" (Độn trời): Sinh môn chủ sự hưng long hợp với Bính kỳ, lâm dưới Đinh (Đinh kỳ). Độn này được bóng trăng che chở, thích hợp xuất quân, hiến kế, nắm quyền vương hầu, trăm việc sinh vượng. Lại có Khai môn hợp với Bính cũng giống, thích hợp tế trời.
"Địa Độn" (Độn đất): Khai môn hợp Ất kỳ, lâm dưới Kỷ (địa bàn Kỷ). Độn này được tinh hoa mặt trời che chở, thích hợp an táng, phục kích, ra khỏi nhà, xây cất đều tốt.
"Nhân Độn" (Độn người): Hưu môn hợp Đinh kỳ với Thái Âm. Độn này được tinh tú che chở, thích hợp do thám trại địch, ẩn tích, yết kiến quý nhân, chiêu hiền, cầu hôn, kinh doanh, cầu tướng, đối địch, thề bồi, tốt; trăm việc hòa hợp.
"Phong Độn" (Độn gió): Ất kỳ hợp Hưu, Khai, Sinh lâm Tốn (cung 4). Lại có Khai, Bính lâm Tốn cũng vậy. Lúc này gió từ Tây Bắc đến, gọi là "Thiên Cương phong", thích hợp xuôi gió đánh giặc, hút hơi gió phun lên cờ trận, hoặc đốt trầm lạ khiến quân sĩ lắng nghe nhạc, được gió thuận lợi. Nếu gió từ Đông đến, gọi là "Lôi Môn phong", nếu giặc ở Đông thì không thể đánh. Gió từ Đông Nam đến, gọi là "Đại Môn phong", nếu giặc ở Nam cũng không thể đánh. Sách Tham Trù Bí Thư nói: "Khai môn, Ất kỳ lâm Tốn, thích hợp tế thần gió, dùng hỏa công đánh địch, dựng cờ hiệu để chờ gió ứng".
"Vân Độn" (Độn mây): Ất hợp Khai, Hưu, Sinh, lâm dưới Tân cung, lại có Ất, Khai lâm Khôn cũng vậy. Độn này được mây che chở, thích hợp giấu hình, che mắt địch. Nếu mây hình như người phụ nữ hai tay hai chân, chủ ba ngày có hỷ sự, nơi lâm tốt. Mây trắng ngoài có mây đen, chủ có phục binh, hình như đàn nhạn, chủ có đại tướng xuất quân, nơi lâm tốt. Hình như chó ngồi, có kỳ binh mai phục, mây tản mát bị gió thổi đứt, chủ đại bại. Một thuyết: Ất, Hưu lâm Khôn, lợi cầu mưa, lập trại, chế tạo binh khí để chờ mây ứng.
"Long Độn" (Độn rồng): Hưu môn với Ất kỳ lâm Lục Giáp tại cung Khảm (cung 1), lâm Lục Quý cũng vậy. Lúc này thích hợp tế thần rồng, cầu mưa, bắt giặc, mưu kế vượt sông, giữ cửa nước, bày mưu phục kích, đánh địch, đo mặt nước, được rồng thần trợ giúp, lại lợi thủy chiến.
"Hổ Độn" (Độn hổ): Ất kỳ hợp Tân lâm Hưu môn tại cung Cấn (cung 8), lại có Tân nghi hợp Sinh lâm Cấn cũng vậy. Lúc này thích hợp chiêu an kẻ đào vong và dùng chiến thuật tấn công nhanh, tất thắng; bày phục kích du kích, giấu quân, vượt qua yếu địa, đường hiểm, dùng mưu được uy hổ. Một thuyết: Sinh môn, Bính kỳ hợp Tân cũng vậy, lợi phòng thủ, thích hợp lập trại để chờ hổ ứng.
"Thần Độn" (Độn thần): Bính kỳ hợp Cửu Thiên lâm Sinh môn. Lúc này thích hợp cầu thần linh, hành thần thuật, vẽ đất bày quẻ, làm đàn tế, trừ tà, mệnh tướng, hô mưa gọi gió, chế phục ma quỷ, được thiên linh bách thần che chở. Một thuyết: "Tu tạo tượng thần, thần linh sẽ phù hộ".
"Quỷ Độn" (Độn quỷ): Sinh môn với Đinh kỳ, Cửu Địa lâm Cấn. Lại có Ất kỳ hợp Cửu Địa tại Đỗ môn cũng vậy. Lúc này thích hợp do thám cơ mật địch, đánh trại đêm, giả vờ phục kích hư, sai khiến quỷ thần, được quỷ thần che chở. Một thuyết: "Khai môn, Đinh kỳ hợp Cửu Địa cũng là Quỷ Độn".
TAM KỲ QUÝ NHÂN THĂNG ĐIỆN CÁCH (Quý nhân lên chính điện)
Ất kỳ lâm Chấn (cung 3) là "Nhật xuất phù tang" (mặt trời mọc ở cây phù tang), chỗ có lộc, là quý nhân lên chính điện Ất Mão.
Bính kỳ đến Ly (cung 9) là "Nguyệt chiếu đoan môn" (trăng chiếu cửa chính), đất hỏa vượng, là quý nhân lên chính điện Bính Ngọ.
Đinh kỳ lâm Đoài (cung 7) là "Đinh kiến tây phương" (Đinh thấy phương Tây), vị thần trên trời, là quý nhân lên chính điện Đinh Dậu.
"TAM KỲ THƯỢNG CÁT MÔN CÁCH" (Cửa tốt nhất với ba kỳ)
Ất, Bính, Đinh ba kỳ đến mà không có ba cửa tốt Khai, Hưu, Sinh thì không dùng được. Nếu ba cửa tốt đến mà không có ba kỳ thì vẫn có thể dùng. Kinh nói: "Quay lưng về sinh, hướng mặt về tử, trăm trận trăm thắng". Tóm lại, ba kỳ, sao tốt, cửa tốt đều đến, lại không phạm cách cục, mới là vạn toàn. Nếu việc nguy cấp, các sao chưa đến, phải dùng phép quay lưng về sinh hướng về tử. Nếu thế địch còn chậm, chờ ba kỳ, cửa tốt đều đến, đó là hoàn mỹ.
"TAM KỲ CHUYÊN SỨ CÁCH" (Sứ giả đặc biệt của ba kỳ)
Ngày Giáp Kỷ dùng Ất kỳ, ngày Bính Tân dùng Bính kỳ, ngày Ất Canh dùng Đinh kỳ, ngày Đinh Nhâm dùng Ất kỳ, ngày Mậu Quý dùng Đinh kỳ. Các cách trên đều tốt, âm độn và dương độn giống nhau.
"NGỌC NỮ THỦ MÔN CÁCH" (Con gái ngọc giữ cửa)
Giờ Giáp Kỷ ở cung Bính, giờ Ất Canh ở cung Tân, giờ Bính Tân ở cung Ất, giờ Đinh Nhâm ở cung Kỷ, giờ Mậu Quý ở cung Nhâm. Một thuyết: cung Đoài (cung 7) có Đinh, Tân thì tốt.
"GIAO THÁI CÁCH" (Âm dương giao hòa)
Ất kỳ gia Đinh, Ất kỳ gia Bính, gặp thì đại cát.
"THIÊN VẬN XƯƠNG KHÍ CÁCH" (Vận trời, khí xương)
Lục Đinh gia Lục Ất.
"TAM KỲ LỢI HỢP CÁCH" (Ba kỳ lợi cho hợp)
Lục Đinh gia Lục Giáp, Lục Giáp gọi là phù đầu.
"THIÊN PHỦ THỜI CÁCH" (Giờ trời phù trợ)
Ngày Giáp Kỷ: giờ Giáp Tuất, ngày Ất Canh: giờ Giáp Thân, ngày Bính Tân: giờ Giáp Ngọ, ngày Đinh Nhâm: giờ Giáp Thìn, ngày Mậu Quý: giờ Giáp Dần. Xuất quân, chiến đấu, lên quan, yết kiến, cầu tài, đi xa đều tốt. Người có tội đều được tha. Ngày Giáp Kỷ giờ Giáp Tý, Kỷ Tỵ cũng vậy.
"THANH LONG HỒI THỦ CÁCH" (Thanh long quay đầu)
Thiên bàn Mậu, địa bàn Bính.
"PHI ĐIẾT ĐIỆT HUYỆT" (Chim bay xuống hố)
Bính gia Mậu.
"TƯỚC HÀM HOA CÁCH" (Chim sẻ ngậm hoa)
Bính gia Ất.
"TAM KỲ ĐẮC SỨ CÁCH" (Ba kỳ được sứ giả)
Ất kỳ gia Ngọ (Giáp Ngọ), Tuất (Giáp Tuất) hai cung.
Bính kỳ gia Tý (Giáp Tý), Thân (Giáp Thân) hai cung.
Đinh kỳ gia Dần (Giáp Dần), Thìn (Giáp Thìn).
HUNG CÁCH (Các quẻ xấu)
"Bội Cách" (Nghịch loạn): Bính gia Chẩm Phù, Chẩm Phù gia Bính, và Bính gia lên năm, tháng, ngày, giờ, đều là Bội cách, chủ chính trị cương thường hỗn loạn. Bính gia Bính cũng là Bội, chủ thấy loạn thần tặc tử.
"Thiên Võng Tứ Chương" (Bốn lớp lưới trời): Ca rằng: "Bốn lớp lưới trời không đường thoát, một hai lớp lưới thấp có đường thông". Ví dụ: tháng 9 năm Nhâm Tuất, ngày Quý Mùi, giờ Quý Sửu, âm độn cục 6, Hưu môn với Chẩm Phù gia thời can Quý ở cung Khảm, nhật can và thời can đều gia Ly cung, đó là lưới cao 9 thước. Lại nói: "Bốn lớp lưới trời không thể đương". Lúc này làm việc có tai ương, nếu có người cưỡng xuất thì lập tức nằm xuống thấy máu.
"Địa Võng Giá Cách" (Lưới đất che phủ): Lục Nhâm gia thời can Lục Quý. Cả hai lưới đều không thích hợp xuất quân, đi lại, đại hung.
"Cao Cách" (Lưới cao): Tức "Thiên Võng Tứ Chương", Thiên bàng Lục Quý gia cung 5,6,7,8,9, đại hung, không thể dùng.
"Đê Cách" (Lưới thấp): Thiên bàn Lục Quý gia cung 1,2,3,4, thì bò ra. Kinh nói: "Bốn lớp lưới trời, trăm vật tự thương". Lúc này có thể làm trăm việc, nhưng thần có cao thấp phải biết.
"Phục Cung Cách" (Phục cung): Thiên bàn Lục Canh gia Chẩm Phù và địa bàn Mậu, chủ khách đều bất lợi, đánh nhau hai bên đều thương.
"Phi Cung Cách" (Phi cung): Chẩm Phù gia Lục Canh, chủ khách đều hung.
"Thời Mộ Cách" (Mộ giờ): Bính Tuất mộ ở Càn, Nhâm Thìn mộ ở Tốn, Tân Sửu mộ ở Cấn, Ất Mùi mộ ở Khôn, Mậu Tuất mộ ở Càn.
"Bách Chế Hòa Nghĩa Cách" (Ép chế, hòa nghĩa): Cửa khắc cung là Bách, cung khắc cửa là Chế, cửa sinh cung là Hòa, cung sinh cửa là Nghĩa.
"Nhị Long Tương Bỉ Cách" (Hai rồng so sánh): Lục Giáp gia Lục Ất, hung.
"Thanh Long Thụ Khốn Cách" (Thanh long bị khốn): Lục Giáp gia Lục Mậu, nguy hiểm.
"Hỏa Ba Thủy Địa" (Lửa tràn đất nước): Bính, Đinh nhập cung Ất, vạn việc chớ làm.
"Mộc Nhập Kim Hương" (Mộc vào đất kim): Ất kỳ lâm cung 6,7 (Càn, Đoài), vạn việc chớ làm.
"Hỏa Lâm Kim Vị" (Lửa lâm chỗ kim): Bính, Đinh gia càn, đoài.
"Kim Tích Mộc Lâm" (Kim chém rừng cây): Canh, Tân lâm Chấn, Tốn.
"Mộc Lai Thổ Trệ" (Mộc đến đất trệ): Ất kỳ lâm Khôn, Cấn.
"Phục Càn Cách" (Phục can): Canh gia nhật can.
"Phi Càn Cách" (Phi can): Nhật can gia Canh.
"Phục Ngâm Cách" (Phục ngâm): Sao bản cung phục bản cung.
"Phản Ngâm Cách" (Phản ngâm): Sao lâm cung đối diện.
"Kỳ Mộ Cách" (Kỳ vào mộ): Ất đến lâm Khôn, Bính kỳ lâm Càn, Đinh kỳ lâm Cấn.
"Lục Nghi Hình Kích Cách" (Lục nghi hình kích): Giáp Tý Mậu (Chẩm Phù) gia cung 3 (Chấn), Giáp Tuất Kỷ gia cung 2 (Khôn), Giáp Thân Canh gia cung 8 (Cấn), Giáp Ngọ Tân gia cung 9 (Ly), Giáp Thìn Nhâm gia cung 4 (Tốn), Giáp Dần Quý gia cung 4 (Tốn). (Chú ý: Quý gia cung 4 là Tốn, nhưng ca nói Giáp Dần Quý cũng gia cung 4? Có thể nguyên bản viết "Giáp Dần Quý trực phù gia tứ cung" - giống Nhâm).
"Lục Nghi Thụ Chế" (Lục nghi bị chế): Hưu môn gia Ly, Thương Đỗ gia Cấn Khôn, Cảnh gia Càn Đoài, Sinh Tử gia Khảm, Khai Kinh gia Chấn Tốn.
"Ngũ Bất Ngộ Thời Cách" (Năm không gặp giờ): Thời can khắc nhật can.
"Địa La Chiếm Táng Cách" (Địa la chiếm phần mộ): Thiên bàn Nhâm gia địa bàn Nhâm.
"Tuế Cách" (Khắc năm): Canh lâm tuế can.
"Nguyệt Cách" (Khắc tháng): Canh lâm nguyệt can.
"Nhật Cách" (Khắc ngày): Canh lâm nhật can.
"Thời Cách" (Khắc giờ): Canh lâm thời can (tức năm Canh, tháng Canh, ngày Canh, giờ Canh).
"Đại Cách" (Cách lớn): Canh lâm Lục Quý.
"Tiểu Cách" (Cách nhỏ): Canh lâm Lục Nhâm.
"Hình Cách" (Hình khắc): Canh lâm Lục Kỷ.
"Bội Cách" (Nghịch loạn): Bính gia thời can.
"Thanh Long Đào Tẩu" (Thanh long trốn chạy): Ất gia Tân.
"Bạch Hổ Sàng Cuồng" (Hổ trắng điên cuồng): Tân gia Ất.
"Đằng Xà Yêu Kiểu" (Rắn bay yêu quái): Quý gia Đinh.
"Chu Tước Đầu Giang" (Chim sẻ đỏ đầu hàng sông): Đinh gia Quý.
"Huỳnh Hoắc Nhập Thái Bạch" (Sao Hỏa vào sao Kim): Bính gia Canh.
"Thái Bạch Nhập Huỳnh Hoắc" (Sao Kim vào sao Hỏa): Canh gia Bính.
THẬP NHỊ CUNG THẦN CA (Bài ca 12 cung thần)
Tý ở Bảo Bình (Chiêu) - Thanh Tề vị.
Sửu ở Ma Yết (Ma Kết) - Việt Dương châu.
Dần ở Nhân Mã - U U Địa.
Mão ở Thiên Yết - Tống Dự cầu.
Thìn ở Thiên Bình - Trịnh Duyện phân.
Tỵ ở Song Nữ - Sở Kinh Khâu.
Ngọ ở Tam Hà - Thuộc Sư Tử.
Mùi ở Cự Giải - Tần Ung Lưu.
Thân ở Ngụy Ích - Âm Dương vị.
Dậu ở Triệu Ký Châu - Phương vi Kim.
Tuất ở Bạch Dương - Lỗ Từ quận.
Hợi ở Song Ngư - Vệ tịnh thu.
TINH TÚC QUÁ ĐỘ QUYẾT (Cách xác định độ sao qua cung)
Cấn 2 độ qua Mão, Vĩ 3 độ qua Dần, Đẩu 4 độ qua Sửu, Nữ 2 độ qua Tý, Nguy 13 độ qua Hợi, Quỳ 2 độ qua Tuất, Vị 4 độ qua Dậu, Tất 7 độ qua Thân, Tỉnh 9 độ qua Mùi, Liễu 4 độ qua Ngọ, Trương 15 độ qua Tỵ, Chẩn 10 độ qua Thìn. Vòng trời tổng cộng 365 độ 25 phân 50 miểu, phân bố 12 cung, mỗi cung 30 độ 42 phân 79 miểu.
THẬP NHỊ CUNG PHÂN DÃ (12 cung phân chia đất đai)
Tý: Nguyên Hêu, Nguy nước Yến 16 độ, Hư nhật Thử 9 độ, Nữ thổ Biên 15 độ. Nước Tề, châu Thanh, châu Tử, Kinh Đông lộ.
Sửu: Tinh Kỷ, Ngưu kim Ngưu 7 độ, Đẩu thủy Giải 23 độ. Nước Ngô, Hoài, Nam Đông lộ, Tứ Thủy, Giang Đông, Dương Châu, Lô Châu, Lưỡng Chiết, Phúc Kiến.
Dần: Tích Mộc, Kỷ thủy Báo 9 độ, Vĩ hỏa Hổ 18 độ. Nước Yên, U Châu, Khuê Châu, Hà Bắc, Hà Tây.
Mão: Đại Hỏa, Tâm nguyệt Hồ 6 độ, Phòng nhật Thố 5 độ, Đê thổ Bãi 16 độ. Nước Tống, Kinh Kỷ, Dự Châu, Sở Quốc, Tế Âm.
Thìn: Thọ Tinh, Cáng kim Long 9 độ, Giốc mộc Giao 12 độ. Nước Trịnh, Long Khánh phủ, Duyện Châu, Đông Tây lộ, Thái Sơn, Trần Lưu, Sơn Âm.
Tỵ: Thước Vĩ, Chẩn thủy Dẫn 18 độ rưỡi, Dực hỏa Xà 20 độ 10 miểu. Nước Sở, Kinh, Hồ Nam lộ, Hồ Bắc lộ, Kinh Châu, Quảng Đông Tây lộ.
Ngọ: Thước Hỏa, Trương nguyệt Lộc 18 độ, Tinh nhật Mã 7 độ, Liễu thổ Chương 14 độ. Nước Chu, Kinh Tây Nam lộ, Tam Hà, Quan Tây.
Mùi: Thước Thủ, Quỷ kim Dương 2 độ rưỡi, Tỉnh mộc Ngân 30 độ. Nước Tần, Ung Châu, Thiểm Tây, Vĩnh Hưng quân, Tần Phong lộ, Tứ Châu.
Thân: Thực Trầm, Tham thủy Viên 9 độ, Tư hỏa Hầu nửa độ. Nước Tấn, Hà Bắc Đông lộ, Đại Châu, Thành Đô, Mạnh Châu.
Dậu: Đại Lương, Tất nguyệt Ô 16 độ, Mão nhật Kê 7 độ, Vị thổ Trĩ 14 độ. Nước Triệu, Ký Châu, Hà Bắc Đông Tây lộ, Chân Định.
Tuất: Giáng Lâu, Lâu kim Cẩu 12 độ, Khuê mộc Lang 17 độ rưỡi. Nước Lỗ, Từ Châu Bắc lộ.
Hợi: Câu Tư, Bích thủy Vu 9 độ, Thất hỏa Trư 17 độ, Nguy nước Yến 17 độ. Nước Vệ, Tinh Châu, Thái Nguyên, Hà Đông lộ.
Các bài liên quan (toàn bộ các quyển):
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 1
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 2
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 3
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 4
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 5
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 6
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 7
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 11
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 12
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 13
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 14 – Bói Hôn Nhân
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 15 – Tam Kỳ Nhập Mộ Ca
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 16 – Thiên Mã Phương Cát Thời Định Cục
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 17 – Tam Kỳ Đáo Cung Đoán
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 18 – Cửu Tinh Gia Trời Khắc Ứng
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 19
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 22
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 27
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 28
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 29
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 30 – Hết Bộ Sách
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Tập Đại Toàn Quyển 20
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Tập Đại Toàn Quyển 23
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Tập Đại Toàn Quyển 24
