KỲ MÔN ĐỘN GIÁP BÍ KÍP ĐẠI TOÀN - QUYỂN 22
KỲ MÔN ĐỘN GIÁP BÍ KÍP ĐẠI TOÀN - QUYỂN 22
BÁT MÔN TỔNG CA (Bài ca tổng quát về tám cửa)
Kỳ đến Khai Môn nên xuất hành,
Hưu Môn dâng thư và xử kiện,
Sinh Môn hôn nhân, có thể vào nhà,
Thương Môn đòi nợ cuối cùng sẽ trúng,
Đỗ Môn trốn tránh và lấp hang,
Nghĩ ngợi rượu thịt thì Cảnh Môn động,
Tử Môn săn bắn và lên trận,
Kinh Môn cầu mưa và chế phục chúng.
MÔN BÁCH CUNG BÁCH (Cửa ép cung, cung ép cửa)
Cung chế ngự cửa gọi là Môn Bách (cửa bị ép).
Cửa chế ngự cung gọi là Cung Bách (cung bị ép).
Cung bách gọi là "Chế", môn bách gọi là "Bách".
Cửa lành bị ép thì việc lành chẳng thành,
Cửa dữ bị ép thì tai họa càng thêm nặng.
NGUYỆT KIẾN THUỘC CỬU TINH XUẤT HÀNH CA QUYẾT (Bài ca đi lại theo sao tháng)
Kiến là Kỷ, Trừ là Âm, Mãn là La Hầu,
Bình là Tham Thủy, Chấp là Phá Thủy,
Phá là Mộc, Nguy là Dương, Thành là Thổ,
Thu là Tử, Khai là Kim, Bế là Nguyệt Bột.
Kiến là Thanh Long, dùng làm đầu,
Trừ là Minh Đường, đường Hoàng Đạo du,
Mãn là Thiên Hình, Bình là Chu Tước,
Định là Kim Quỹ, cầu thần lành,
Chấp là Thiên Đức, trực Hoàng Đạo,
Phá là Bạch Hổ, Nguy là Ngọc Đường,
Thành là Thiên Lao, kiên cố giữ,
Thu là Nguyên Đạo, tặc tặc lòng sầu,
Khai là Tư Mệnh, lâm Hoàng Đạo,
Câu Trần là Bế, chủ vong lưu.
Hoàng Đạo xuất hành là đại cát,
Hành quân chiến đấu, Hắc Đạo ưu.
ĐẠI KIM CƯƠNG THẦN GIÁ TRỊ NHẬT BÁCH KỴ THI QUYẾT (Bài thơ điều kỵ hàng ngày của thần Kim Cương lớn)
Sao Quỷ, Lâu, Giốc, Cang, Ngưu, Tinh,
Xuất quân ắt chẳng được về trình,
Nếu còn đi xa gặp trộm cướp,
Cầu tài buôn bán trăm chẳng thành.
Lên thuyền ắt bị chìm đắm,
Mua bán giao dịch chẳng vừa lòng.
Đào giếng tốn công khó thấy nước,
Nhậm chức làm quan bị giảm danh.
Hôn nhân chủ tổn hại hình,
Đưa tang va chạm hại sinh linh.
Muốn biết cát hung sao ở đâu,
Ra từ Thiên Phù Bí Mật Kinh.
DỊCH SỐ TỔNG ĐOÁN (Tổng quát bói số Dịch)
Ngọc Sách Thiên Nguyên thực sự chí lý,
Phân đinh, dịch giáp, lạc thư số.
Âm dương biến hóa lẫn nghịch thuận,
Tham ngũ, thố túng, cùng cửu khâu.
Độn nói tam tài: trời, đất, người,
Rồng, hổ, mây, gió và quỷ thần.
Sinh Thổ, Sinh Trung phụ thần vị,
Bát quái đẩy hành liệt bát môn.
Một trung tạo hóa lộ thiên cơ,
Trên có thể thăng, lên, bước, bay.
Giữa có thể suy, cẩn xu hướng tránh,
Tàng thần hợp sóc, bói thời kỳ.
Xuất hành tạo táng trăm lợi,
Xưa nay mấy kẻ biết hết đi?
Một nghìn tám trăm Hoàng Đế chế,
Tử Phòng mười tám cuộc pháp thâm thùy.
Trí tuệ thông thần có thể đạt vi,
Bốn mươi tám cách khó suy bì.
Nay ta phục cổ diễn thành sách,
Dịch số thông vi khả tinh nghĩa.
Người thường chẳng biết có thể suy,
Bước lên thang bậc đường trời dài.
Xung, Phụ, Cầm, Nhậm, Tâm là cát nhất,
Tam kỳ gia hộ phát trinh tường.
Chẩm Phù, Chẩm Sứ ghét xung kích,
Khai, Hưu, Sinh môn là thượng cát.
Đại khái phải xét hậu với tiết,
Kỳ môn tạo táng hợp long huyệt.
Khai cơ chém cỏ cùng hàng thương,
Động dụng tác vi chiêm phương hướng.
Chớ độ chớ nghi chớ phản cố,
Chí thành cảm ứng phúc vô cường.
Tam kỳ đắc sứ thực có thể dùng,
Lục Giáp gặp nó chẳng phải nhỏ bổ.
Ất về chó ngựa, Bính về chuột khỉ,
Lục Đinh Ngọc Nữ cưỡi rồng hổ.
Lại có Tam kỳ du lục nghi,
Gọi là Ngọc Nữ thủ môn thời.
Giáp Tý, Kỷ Mão, Canh Ngọ,
Bính Ngọ, Đinh Dậu, Ất Mão kỳ,
Lợi làm việc âm tư và hòa hợp,
Cung đình yến nhạc cũng có thể làm.
Tam kỳ nhập mộ tổng chẳng nên,
Làm việc lúc này phòng hậu nguy.
Ngũ bất ngộ thời càng đáng ghét,
Gọi là Nhật Nguyệt minh tổn thần.
Giờ can khắc ngày can vị,
Trăm việc đều hung chớ thử nhẹ.
Nghịch thuận trực phù thống thất thần,
Địa nghi phục nặc, thiên dương binh.
Thái Âm, Lục Hợp khả hồi tránh,
Xa viễn, Câu liên, điền thổ tranh.
Bạch Hổ phương Tây hung thần sát,
Huyền Vũ đạo tặc phòng chinh đồ.
Khó toan, Thiên Ất, Lục Mậu bế.
Cấp tùng thần hề hoãn tùng môn (Gấp thì theo thần, chậm thì theo cửa).
Thiên tam môn hề địa tứ hộ,
Hỏi ngươi phép này ở chỗ nào?
Thái Xung, Tiểu Cát cùng Tòng Khôi,
Đây là Thiên Môn đường riêng ra.
Địa hộ: Trừ, Nguy, Định với Khai,
Tác vi động dụng từ đây mà đi.
Thái Âm, Lục Hợp, Thái Thường quân,
Vốn là Địa Tư ba cửa lành.
Nếu được kỳ môn tương chiếu ứng,
Ra cửa làm việc tổng hân hân.
Thái Xung Thiên Mã thực là quý,
Có nạn từ đây nên tránh lánh.
Nếu nhiên cưỡi lấy Thiên Mã đi,
Hổ báo giao trì cuối chẳng gặp.
Cát nhất kỳ môn như Thái Âm,
Ba điều khó được tổng chiếu lâm.
Cung phương được hợp cũng là đẹp,
Cử chỉ hành tàng ắt toại tâm.
Lục Bính Sinh Môn như Lục Mậu,
Đây là Thiên Độn tự phân minh.
Khai Môn Lục Ất gia Lục Kỷ,
Địa Độn như thế mà thôi vậy.
Hưu Môn Lục Đinh hợp Thái Âm,
Muốn biết Nhân Độn chẳng qua đây.
Ba độn cần biết trăm việc nên,
Tàng tu ẩn ảnh càng là đẹp.
Ất Tân là rồng, Hưu, Khảm, Vũ,
Long Độn chi danh cư thủy ủy.
Tân Ất là hổ, Sinh Môn gặp,
Hổ Độn cư sơn tại trưởng kỳ.
Lục Ất gia Tân, Hưu Môn hợp,
Thủy khí sinh phong, Phong Độn uy.
Lục Ất gia Tân, Sinh càng hợp,
Cấn nguyên, Khôn thổ, Hổ Độn bay.
Sinh lâm Bính nguyệt, Cửu Thiên thượng,
Thần Độn tư vi phúc thế hy.
Lục Ất nhược nhiên gia Cửu Địa,
Tư vi Quỷ Độn đạt u cơ.
Hình kích lục nghi sao quá hung,
Chẩm Phù hình xứ với thời đồng.
Tý Mão, Tuất Mùi, Thân kỵ Hổ,
Thìn Ngọ tự hình, Tỵ Ngọ cung.
Thời nhật, môn tinh có Phục Ngâm,
Hưu gia Hưu thượng, Bồng gia Bành.
Duy đương thủ kỷ, tài hóa liệm,
Vọng động khinh mưu có xâm hại.
Trong đó Phản Ngâm Tý gia Ngọ,
Càng ghét môn phù tương đối ngũ.
Phiên nghi tán dịch, phát thương lẫm,
Động chúng hưng công, hung tất trở.
Kỳ môn cát túc nhược gia lâm,
Khả miễn tai hình, phúc vô bổ.
Cung khắc môn hại vi tài đa,
Môn chế cung phân cung quỷ bách.
Cửa lành bức bách nên mau thành,
Cửa dữ quá bách, hung chớ trắc.
Bính vi bội nghịch, Canh vi cách,
Cách tắc bất thông, bội loạn nghịch.
Bính gia nhật can cập Chẩm Phù,
Ngỗ nghịch kỷ cương, ứng chẳng sức.
Canh gia bản tuế nguyệt nhật thời,
Đều danh Càn cách sinh tai nguy.
Lục Bính gia Dần Huỳnh nhập Bạch,
Khấu tức dục khứ, thế khả hoạch.
Lục Canh gia Bính Bạch nhập Huỳnh,
Tặc tín phương lai, thế chớ trắc.
Canh gia Chẩm Phù, Thiên Ất phục,
Chẩm Phù gia Canh, Thiên Ất phi.
Gia nhất cung hề chiến tại dã,
Hình nhất cung hề phòng quốc trì.
Canh gia Quý hề phòng quốc trì,
Quý gia Canh hề vi Đại Cách.
Gia Nhâm chi thời Tiểu Cách dụng,
Gia Kỷ vi hình, đạo lộ cách.
Nhật can gia Canh, Phi Càn thôi.
Lại có nhất bàn Thời cách giả,
Lục Canh thận vật gia Tam Kỳ.
Lúc này nhược động xuất hành khứ,
Phao mã chỉ luân vô phản kỳ.
Lục Quý gia Đinh, Xà yêu kiểu,
Ưu hoàng tâm sự hà thời liễu.
Lục Đinh gia Quý, Tước đầu giang,
Gian ngoan tụng quái nhập công đường.
Lục Tân gia Ất, Hổ sàng cuồng,
Khủng cụ thân thân hữu tổn thương.
Lục Ất gia Tân, Long tẩu tẩu,
Kinh hoàng lẫm tán tài tồn phủ.
Long hồi thủ hề Giáp gia Bính,
Tân duyệt ý, ứng vô củ.
Bính gia Giáp hề Điểu điệt huyệt,
Bách vi cử động thành công liệt.
Thiên bàn động dụng chiêm vi khách,
Địa bàn an tĩnh chiêm vi chủ.
Tế khan tinh cung, kỳ môn tri,
Sát kỳ hình khắc, cát hung quyết.
Phân kỳ nhật nguyệt, vượng, hưu phương,
Càng biện kỳ phương, vân khí sắc.
Giả như Thiên Bồng gia Cửu cung,
Vượng tướng chi nguyệt tại Thu Đông.
Hỷ phùng Quý, Nhâm, Hợi, Tý nhật,
Phương Bắc hắc khí, khách hữu công.
Nhược hoàn Thiên Anh gia nhất địa,
Đông thời phương Bắc chủ phản lợi.
Kỳ môn tinh vị phỏng thử suy,
Nhân tại thời phương phân tế tế.
Từ Dần đến Ngọ, ngũ dương thời,
Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu hợp nghi.
Tiên dữ xuất hành vi khách thắng,
Lợi tạo nhân cung tinh di tích.
Từ Mùi đến Hợi, thời ngũ âm,
Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý càn tầm.
Lợi chủ tập mưu, tu bị dụng,
Ưu nghi đảo tạo dữ đào ly.
Thập can, Lục Giáp vi tông chủ,
Thượng hạ giao thừa, khai, khắp phân.
Dương tinh gia nhất cung, khai cát,
Âm tinh nhất cung, khắp sự hung.
Giáp Mạnh nghi trinh, Trọng nghi thủ,
Cung phương gia Quý, cát tự hưng.
Tác vi tiến vãng bằng Thiên cục,
Cơ huyệt âm mưu, tĩnh địa thừa.
Nhược kiến Tam Kỳ tại ngũ dương,
Thiên nghi vi khách tự cao cường.
Tam Kỳ nhược ngộ ngũ âm thượng,
Lợi nghi vi chủ, chí thường dương.
Tam Kỳ tích uẩn, diệu nan ngôn,
Âm nghịch hậu chiêm, dương thuận tiền.
Mỗi thời tu biệt sơ, trung, mạt,
Tổng bả Chẩm Phù phân hậu tiên.
Ất đức vãng lai hoảng tự thần,
Hành phùng tửu soạn, thị tài trần.
Nhập cung di cưới đều nghi khách,
Lại kỵ biên hình dữ nộn sân.
Bính Tử Nguyệt Kỳ, thiên uy chớ,
Hỏa khí tiêu kim, binh bất khởi.
Thị giá nhập quan, hành ngộ tiên,
Thính vô ưu hề, văn hữu hỷ.
Lục Đinh Ngọc Nữ, Thái Âm tinh,
Xuất nhập u minh, lão bất hình.
Yết thỉnh nhập quan, thương cưới cát,
Bán vi ưu hỷ, lợi tư doanh.
Lục Mậu Tam Môn, hung bất khởi,
Lai long vạn lý, thùy ha chỉ.
Đại mã bất minh, hành khách tùy,
Thị giá đắc tài, kinh tẩu phủ.
Kỷ vi Lục Hợp, lợi cơ mưu,
Ẩn nặc như thần, thiên mạc chỉ.
Xuất nhập quan hành, lợi bách vi,
Kinh đào hung khứ, tiểu nhân lợi.
Lục Canh gia thời, tuyệt ngũ bản,
Cường xuất tao lăng, nhập Thiên Ngục.
Thị giá đạo vong, vật hữu thương,
Bách nghi cố thủ, tư vi phúc.
Lục Tân xuất ngộ tử thi trần,
Cường xuất Thiên Đình, tội trói thân.
Vấn tật quan thương, hôn cưới kỵ,
Tự tân lợi quyết, tội hình nhân.
Nhâm thị Thiên Lao, cường xuất tiêu,
Yêu tra tắc lợi, vong dữ đào.
Bệnh nhân tiến thoái, tồn dư suyễn,
Quan lại thù kê, bách sự tao.
Quý tàng xuất nhập, bách ưu tiền,
Lợi bệnh đào vong dữ mịch tiên.
Độn tích ẩn hình, nhân mạc hiểu,
Bệnh gia trầm trọng, nhật triền miên.
CỬU TINH CÁT HUNG THI QUYẾT (Bài thơ tốt xấu chín sao)
Thiên Bồng chủ sự lạ thu đông,
Dùng kiện an biên, xuân hạ công.
Cưới gả đều vong, di dời lửa,
Nhập quan hiểm đạo, môn gặp hung.
Giá thương mai táng, cư hành phủ,
Tương hội kỳ môn, lược thiểu quá.
Thiên Nhậm chi túc thuộc tinh nghi,
Trăm việc cầu mưu, lợi bốn thời.
Tạo táng nhập quan tinh thỉnh yết,
Hành thương cưới tự, cát thiên di.
Chủ biên càng hỷ khí thần vượng,
Lai phát cơ duyên, khách dĩ nguy.
Thiên Xung báo oán thừa xuân ôn,
Vạn lý uy phong, đởm khí hùng.
Bất lợi thu đông, xuân hạ thắng,
Giá thương hành dời, nhập quan truân.
Tạo táng tu phương, cưới sản nan,
Cần tri vạn vật lai phùng xuân.
Thiên Phụ tu thân lợi tạo doanh,
Chinh doanh xuân hạ, địa khai bình.
Tội hình thử xuất phùng Thiên Xá,
Viễn xuất cư quan, công diệc thành.
Cưới gả đa nhi, tăng lợi thị,
Yết cầu di dời, khước vô tình.
Thiên Anh chi túc thị Thiên Đồ,
Viễn hành ẩm yến, lạc du du.
Xuất nhập táng mai nghi cưới gả,
Dời cung trúc thất, tự thương vi.
Chủ lệnh thận vật khinh gia khách,
Bỉ nhược vị công, tự thủ nguy.
Nhuế tinh thụ đạo, kết giao nghi,
Tác sự chinh hành, bất tất vi.
Đạo tặc ưu kinh thương tiểu khẩu,
Tai hình tù sự, bị quan cơ.
Đại hung xuân hạ, thu đông cát,
Túng đắc kỳ môn, phúc diệc khuy.
Thiên Cầm trung chủ, bốn mùa thông,
Ngạnh xung kiên đại, hữu kỳ công.
Nghi dụng trí mưu, cơ hoạt phục,
Tế thần cảm ứng, thượng quan hanh.
Giá thương cưới gả, hành tu tạo,
Kỳ môn gia đáo, tận hanh thông.
Thiên Trụ sơn phương, tu tạo lương,
Tế thần cưới gả, diệc sinh quang.
Tàng hình cẩn thủ, tư vi mỹ,
Di dời chinh hành, khước thụ ương.
Doanh mưu bất thiện, như khinh động,
Vọng hành giao kết, chủ trúng thương.
Tinh túc cơ thần, đạo huy – Tâm túc,
Cầu tiên hợp dược, bách vi nghi.
Nhập quan cưới gả, cập di dời,
Tạo táng chinh hành, tế tự thời.
Thái tại thu đông, xuân hạ nhật,
Lợi gia quân tử, tiểu nhân nguy.
BÁT MÔN CÁT HUNG THI QUYẾT (Bài thơ tốt xấu tám cửa)
Hưu Môn nhất nhất khí doanh thất,
Phú quý tử tôn, điền thổ cát.
Tế tự tu doanh, nhập trạch cơ,
Phó quan thiên dời, sự chu tất.
Sản chiêu đào tuyệt, nhập hưng long,
Bắc vượng đông thời, số lục nhất.
Nam bắc hôn nhân, hữu viễn thân,
Gửi lai lục súc, tăng quan trật.
Sinh Môn bát bát khí doanh tinh,
Hung sát giai hàng, tôn thổ tinh.
Nhân đãi nữ tài, nhân ký vật,
Từ tư trí phú, tử tôn hưng.
Ba niên định hữu quý nhi sản,
Xuất nhập ngoại châu, tuyền hoánh doanh.
Cưới gả chủ manh tinh tạo tác,
Tai tiêu phát phúc, hữu kỳ linh.
Thương Môn khí đoản, số tam tam,
Dần Mão vượng phương, âm giốc gian.
Ngư liệp bộ chinh, tầm sưu trái,
Căng nghi đổ bác, truy vong hoàn.
Quan tư khẩu thiệt, trùng tang chí,
Lục súc bào ôn, hỏa đạo gian.
Phu phụ huyết quang, tai nhãn chứng,
Ba tuần sản ách, họa lực tàn.
Hình danh tử dĩ kiêm phong tật,
Xà hổ thương nhân, cư bất an.
Đỗ Môn tứ tứ tinh hung ác,
Mộc tính thời phương, Dần Mão bạc.
Đê tuyệt thủy sự, phong bồi khu,
Truy tà phạt đạo, tinh câu tróc.
Xuất vong đào nạn, đoán dục nghi,
Ẩn phục yêu tranh, câu khả thác.
Khử nịnh viễn tàng, mai bế tàng,
Khắc tuyệt âm tư, năng cửu ước.
Dụng động tự phòng đạo tặc xâm,
Quan hình tài tán, ôn dịch thương.
Xà thương lôi đả, ghẻ lở thâm,
Phân lẫm nhân vong, gia thoái lạc.
Cảnh Môn cửu cửu tử khí doanh,
Tỵ Ngọ vượng nam, Dần Tuất kết.
Khiển sứ thượng thư, năng giải nguy,
Cầu mưu tu tạo, phỏng tầm yết.
Táng mai cưới gả, cát trung đấu,
Cấp thưởng lại nhân, như thủ tróc.
Hiến sách cầu danh, trì bệ thân,
Cử khoa văn sĩ, tảo văn khiết.
Tử Môn nhị nhị hung tinh nghịch,
Mậu Kỷ Khôn Cấn, phương vị tức.
Xuyên liệp ngư võng, hình thích nghi,
Đưa tang điếu tử, táng mai ích.
Tu doanh phòng trưởng, cập bình phòng,
Ngỗ nghịch trùng tang, vong sản hãn.
Sở cầu bất lợi, bất nghi hành,
Động kiến bại vong, quan lạc chức.
Kinh Môn vô hóa, khí vi nghịch,
Vượng tại Canh Tân, Thân Dậu địa.
La võng trương nghi, lập ngục tụng,
Công môn hình kích, nhất tề đáo.
Đào vong yểm bặc, đắc công năng,
Thị giá tu doanh, giai khả kỵ.
Trí tụng hư kinh, tật dịch hưng,
Bại tù quân tặc, ngưu dương tệ.
Khai Môn lục lục khí doanh kỳ,
Yết quý cầu mưu, lợi hữu vi.
Lập trạch thiên tu, quan chức tiến,
Ngoại lai tài bạch, mã ngưu phì.
Phong mật, đão dã, hoành tài phát,
Phú thịnh tử tôn, danh lợi tề.
Kim thượng Canh Tân, thu nguyệt vượng,
Nô điền súc sản, giá thương nghi.
NHẬT GIA KỲ MÔN CỬU TINH (Chín sao Kỳ Môn theo ngày)
Lại có Thái Ất cửu tinh vị,
Đông chí Cấn cung, Hạ chí Khôn địa.
Mệnh khởi Giáp Tý, thuận nghịch hành,
Bản nhật trú cung, Thái Ất lập.
Thái Ất: cầu tài vạn sự thông.
Nhiếp Đề: cửa đánh náo động trong.
Hiên Viên: xuất nhập nhiều kinh hãi.
Chiêu Diêu: đến chỗ máu hồng quang.
Thiên Phù: đánh vây, bắn săn cát.
Thanh Long: tìm lợi hỷ trùng trùng.
Hàm Trì: sở chủ quan tai chí.
Thái Âm: phục xứ, của tài phong.
Thiên Ất: quý nhân nên rượu thịt.
Chín sao ứng nghiệm nhất linh thông.
Trời quý nhất là sao Đình Đình,
Rất nên quay lưng về phía nó mà đánh vào hướng xung.
Kiêm cập Đình Đình nguyệt tướng gia,
Giờ thần hậu thị Đình Đình dã.
Sinh thần quay lưng hướng nhất bần cùng.
Trời tốt chi thần là Bạch Gian vị,
Cách tại Dần Thân, hợp tại Tỵ Hợi.
(từ Đình Đình mà đến Bạch Gian)
Nguyệt tướng gia thời cầu Mạnh thần,
Hợi, Dần, Tỵ, Thân hợp Mạnh dị.
Tuần lý cô đều Nhâm, Quý phương,
Sở đối chi phương thị hư vị.
Quay lưng vào cô, đánh vào hư, hư dụng gian,
Nữ lưu khả đương bách phu khí.
(từ Bạch Gian mà luận cô hư)
Các bài liên quan (toàn bộ các quyển):
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 1
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 2
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 3
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 4
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 5
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 6
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 7
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 11
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 12
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 13
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 14 – Bói Hôn Nhân
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 15 – Tam Kỳ Nhập Mộ Ca
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 16 – Thiên Mã Phương Cát Thời Định Cục
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 17 – Tam Kỳ Đáo Cung Đoán
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 18 – Cửu Tinh Gia Trời Khắc Ứng
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 19
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 22
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 27
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 28
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 29
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 30 – Hết Bộ Sách
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Tập Đại Toàn Quyển 20
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Tập Đại Toàn Quyển 23
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Tập Đại Toàn Quyển 24
