KỲ MÔN ĐỘN GIÁP BÍ KÍP ĐẠI TOÀN - QUYỂN 7
KỲ MÔN ĐỘN GIÁP BÍ KÍP ĐẠI TOÀN - QUYỂN 7
LUẬN CHỦ KHÁCH NGHIỆM ỨNG TRONG KỲ MÔN
Luận rằng: Sự ứng nghiệm của Kỳ Môn, có khi trước có khi sau, ứng nghiệm có chủ có khách, lấy người, ta và kẻ khác mà suy. Đại khái: thần kỳ ứng nghiệm ở lúc ban đầu, tinh ứng nghiệm ở giữa việc, môn ứng nghiệm ở lúc cuối, lần lượt suy xét chi tiết, thì không gì không ứng nghiệm như thần. Nếu ta đi tìm người, ta là khách, người kia là chủ, lấy sao trên Thiên Bàn làm ta, sao trên Địa Bàn làm người kia. Nếu người kia đến tìm ta, người kia là khách, ta là chủ, lấy sao trên Thiên Bàn làm người kia, sao trên Địa Bàn làm ta. Xem người kia đến sinh ta, ta đi sinh người kia, người kia sinh ta thì lợi về ta; ta sinh người kia thì lợi về người kia; người kia khắc ta thì hại về ta; ta khắc người kia thì hại về người kia. Lại lấy sao trên Thiên Bàn của ngày Âm làm ta, sao trên Địa Bàn của ngày Dương làm người kia, bằng hòa thì không lợi không hại, cứ theo đó mà suy.
Kỳ Môn nói: "Có dương hay không có dương, đức lộc ở môn; không dương thì nửa cát, có dương thì vui vẻ". Dương thần ở đây chỉ khi bay đến giá trị sứ môn mà gặp được Đinh Kỳ, thì gọi là được dương thần trợ giúp. Ví như Giáp Tý Trực Phù, Đinh Mão là dương thần; Giáp Tuất Trực Phù, Đinh Sửu là dương thần, v.v.
KỲ MÔN XEM VIỆC (Tổng hợp các mục)
Theo bài ca Quý Nhân của Kỳ Môn cũng giống như Lục Nhâm, nhưng sau Đông Chí dùng Âm Quý, sau Hạ Chí dùng Dương Quý chứ không dùng âm. Kỳ Môn: bàn trên tượng trời (chín sao), bàn giữa tượng người (tám cửa), bàn dưới tượng đất (chín cung). Bàn trên là sao, bàn giữa là cửa, bàn dưới là cung.
Cách dùng: Phàm xem cát hung, trước hết trọng Cửu Tinh, vì Cửu Tinh là Thiên Bàn, cát hung do trời gây ra vậy. Sao khắc cửa thì cát, cửa khắc sao thì hung. Phàm xuất hành tránh nạn, trước hết trọng Bát Môn, vì Bát Môn là Nhân Bàn, cát hung do tự mình lấy vậy. Cửa khắc cung thì cát, cung khắc cửa thì hung, làm hại việc người nên hung. Phàm tạo táng, di dời, trước hết trọng Cửu Cung, vì Cửu Cung là Địa Bàn, việc di dời đều do đất mà khởi, cho nên cửa và cung tương sinh đều cát, tương khắc đều hung. Nếu nắm được ý này mà suy, thì mọi việc liên quan đến trời người đều có thể dùng số để thông suốt, thật là diệu thay! Điều này chỉ cho người ta cách dùng.
Truyện rằng: Kỳ Môn đã chia ba bàn, trên dưới đều có một can, địa bàn trong cung có Kỳ Nghi, trên dưới đối chiếu thì thành cách hay không thành cách rõ ràng có thể biết. Ví như Giáp gia Bính, Ất gia Tân v.v. Chỉ có dưới chủ tinh, trong cửa bay, có ẩn giấu một can, gọi là phép Trực Sứ gia thời chi. Lại từ đầu Trực Phù khởi số đến chỗ thời can, từ Giáp đến Bính, đến Ất đến Quý, để tìm thời chi, thì trong tám cửa lại mang thêm một can, gọi là "Phi Can". Can này không lộ ra ngoài, ngoài cục diện trên dưới bàn, tính thời chi, dùng can chi giờ mà sắp đặt, cho nên gọi là "ẩn tàng", như ẩn như hiện, biến hóa vô cùng, xưa nay không ai nhận biết. Ví như trong Phi Môn (tức bàn giữa, tám cửa), đã sinh chủ tinh, bỗng nhiên trong Phi Môn có Canh bay đến (đây là khi lấy thời chi từ Giáp, Ất của ta đến mà không lộ dấu vết). Phàm trăm việc bên ngoài dù đẹp đầy đủ, nhưng bên trong có trắc trở, lại thêm Phi Môn đã khắc chủ tinh, thì trăm việc xem đều đại hung, mà trong Phi Môn bỗng có Kỳ bay đến (tức Phi Can là Ất, Bính, Đinh), thì trăm việc bên ngoài tuy hung, nhưng bên trong thực ra có nhiều điều ẩn đạt được. Kinh nói: như ẩn như hiện, như có như không, đó là nói về Phi Can.
XEM VIỆC ĐẦU QUÂN
Sao Thiên Xung là võ sĩ, Trực Phù là chủ soái. Cung Trực Phù sinh cung Thiên Xung, và cung Thiên Xung sinh cung Trực Phù, thì vừa gặp đã hợp ý. Nếu chúng khắc nhau, ắt không được nhận. Thiên Xung nếu ngồi vào vị trí Trực Phù, một đi là làm bộ trưởng, sau ắt được trọng dụng. Phục Ngâm thì về không, Phản Ngâm thì phản phúc không chắc.
XEM VIỆC ĐÁNH THÀNH
Lấy Lục Canh làm kẻ đánh, lấy Thiên Cầm làm người giữ (phép cũ nói: Canh là quân lính, Cầm là người ở trung tâm bị đánh, cho nên chịu đánh). Nếu Lục Canh cưỡi vượng tướng, được Khai Môn gia cung Trung Ngũ, thành ắt bị phá (thấy rằng cung Trung Ngũ cũng có cửa, khi hành đến đây chẳng lạ gì). Lại xem cung mà Địa Bàn Thiên Cầm cưỡi, được vượng tướng và cửa cát, thì tướng giữ không thể bắt được; trái lại ắt chết.
XEM VIỆC GIỮ THÀNH
Lấy Thiên Cầm làm người giữ, Thiên Bồng và Lục Canh làm kẻ đánh. Cung Thiên Cầm được Hưu, Sinh, Khai, Cảnh, lại vượng tướng có Lục Bính, thì thành không vỡ. Nếu không có vượng tướng và cửa cát, lại phạm Thiên Bồng, Lục Canh và Trung cung, thì giữ không nổi, chắc chắn vỡ.
XEM TRỘM CƯỚP (GIẶC)
Quân địch đến rồi đi, trước hết phân ranh giới. Sau Đông Chí lấy Khảm, Cấn, Chấn, Tốn làm nội, bốn cung Ly, Khôn, Đoài, Càn làm ngoại (không đến). Chỗ Lục Canh rơi vào cung bị khắc, thì đóng dinh không vững, tự kinh mà lui. Lục Canh khắc cung mình rơi vào, lại gặp Huyền Vũ, Thiên Bồng, Bạch Hổ chi thần, ắt đại chiến. Canh được Cửu Thiên, thì ra oai phô trương thanh thế, đánh trống mà tiến. Canh được Cửu Địa, thì im cờ lặng trống mà đến. Nếu giặc đã vào trong địa phận, xem lúc nào đi? Xem Lục Canh ở trong bốn cung nội thì chưa đi, ở ngoài bốn cung ngoại thì sắp đi. Tổng lấy can chi địa bàn của Lục Canh để định kỳ đi đến. Canh gia năm (năm là phương tốt v.v). Như Thái Bạch nhập Viêm, tuy giặc đến, nhưng ở ngoại giới (bốn cung ngoại), cũng chủ không đến; Viêm nhập Thái Bạch, tuy chủ giặc đi, nhưng ở nội giới (bốn cung nội), cũng không đi.
XEM GIẶC ĐẾN SÁT THÀNH, THÀNH CÓ THỂ GIỮ ĐƯỢC KHÔNG
Lấy cung Thời Can làm khách, cung Thời Chi (tức cung Trực Sứ) làm chủ, xem sinh khắc thế nào. Nếu cung Thời Chi địa bàn bị cung Trực Phù rơi vào khắc chế, mà Thời Chi lại cưỡi Lục Canh, Huyền Vũ, thì thành này nên bỏ. Hoặc cung Trực Sứ tự bị dưới khắc, thì thành này cũng không thể ở, nên mau chóng lui tránh. Nếu cung Trực Phù và cung Trực Sứ tương sinh, tương tỷ, hoặc cung Trực Phù tự bị hình khắc, thì địch ba lần đến cũng không thể thắng, giữ thì không sao.
XEM THẮNG BẠI
Phàm chiến trận lấy hai cửa Cảnh, Kinh làm chủ. Kinh nói: Cảnh Môn nên phá trận. Lại phép trị loạn, phải xem Kinh Môn. Lấy cung Trực Phù rơi vào làm chủ, cung Lục Canh rơi vào làm khách. Cung Trực Phù khắc cung Lục Canh thì chủ thắng; cung Lục Canh khắc cung Trực Phù thì khách thắng. Lại luận: vượng tướng thì thắng, hưu tù thì bại. Nếu chủ được hai cửa Cảnh, Kinh, hoặc cung hai cửa ấy với cung khách tương sinh thì khách thắng. Nếu cung chủ và cung khách tương sinh thì ắt đến hòa giải. Nếu chủ khách đều cưỡi vượng tướng, đều được hai cửa, không hình khắc nhau, sức lực ngang nhau, thì hai bên đều sợ, không đánh mà lui. Nếu Lục Canh làm Trực Phù, tức chủ khách đồng cung, hai bên không phân thắng bại. Lại Nhật Can gia Canh thì chủ thắng, Canh gia Nhật Can thì khách thắng. Ví dụ: Cốc Vũ thượng nguyên, Âm Độn cục 5, ngày Bính Tân, giờ Nhâm Thìn, Thiên Trụ làm Trực Phù, trên mang Lục Canh, chủ hai bên không thắng không bại, tự lui tránh.
XEM TIN XA
Lấy Cảnh Môn làm tin. Bài ca: "Cảnh Môn bỏ thư và phá trận". Cảnh Môn lâm ngoại giới thì tin đến chậm, lâm nội giới thì nhanh. Trên mang cách tốt thì tin tốt, cách xấu thì tin xấu. Môn bách, đầu giang (rơi sông) thì không có tin.
XEM ĐẠI KẾ (KỲ THI CÔNG LỚN) CÁT HUNG
Lấy Trực Phù làm bộ lại, Khai Môn làm quan tinh. Cung Khai Môn bị cung Trực Phù khắc chế, lại hưu tù phế một, và không được sao tốt, cách tốt, thì chủ bị bắt tra hỏi. Nếu vượng tướng, chủ bị bãi chức. Được sao tốt thì bị giáng cấp. Cung Khai Môn không bị cung Trực Phù khắc chế, trái lại tương sinh thì vô sự.
XEM LĨNH PHÊ VĂN (NHẬN VĂN BẢN) NHANH HAY CHẬM
Cung Lục Đinh và cung Trực Sứ tương sinh thì nhanh, tương khắc thì chậm. Lại xem Lục Đinh ở chỗ nào, lấy can chi ngày ấy để định kỳ hạn.
XEM QUAN MỚI NHẬM CHỨC HIỀN HAY KHÔNG VÀ NGƯỜI Ở ĐÂU
Lấy môn làm quan tinh, Cửu Tinh làm tâm tính, thiên can (can trên Thiên Bàn) làm phân dã (địa phương). Ví dụ: Khai Môn trên cưỡi sao tốt là người tốt, sao xấu là người xấu. Thiên Phụ tâm tính văn minh, Thiên Nhâm nhân từ, Thiên Tâm chính trực, Thiên Cầm trung hậu, Thiên Xung phong lôi, Thiên Anh oai liệt, Thiên Nhuế tham lam độc ác, Thiên Trụ gian tà đại ác. Giáp: man di; Ất: ngoại hải và đông di; Bính: Sở; Đinh: Đại, Giang, Hoài Nam; Mậu, Kỷ: Hàn, Ngụy, Trung Châu, Hà Tế; Canh: Tần; Tân: Hoa; Nhâm: Yên, Triệu; Quý: Thường Sơn.
XEM VIỆC QUAN, XÚC TIẾN CẤP BÁCH HAY CHẬM
Lấy Thời Can làm ta, Nhật Can làm quan trưởng, Lục Đinh làm công văn, Trực Sứ làm sai dịch. Nếu cung Trực Phù khắc cung Thiên Ất (Thiên Ất ở đây là Thời Can trên trời), mà Lục Đinh lâm vào nội địa, thì việc xúc tiến chậm. Nếu cung Trực Phù khắc cung Thiên Ất, mà Trực Sứ lâm vào ngoại địa, thì việc xúc tiến gấp. Lại có Kích Hình thì ý đến rất ác, Tam Kỳ thì rất tốt. Nếu tương sinh, sai dịch gặp quan trưởng thì vui, tương khắc thì giận. Lại xem Lục Canh là Thiên Ngục, rơi vào hưu tù thì một đi là kết thúc, vượng tướng thì không thể kết thúc.
XEM DI DỜI CÁT HUNG
Lấy Cửu Tinh và Cửu Cung phân phương hướng định có thể hay không. Phương này có Tam Kỳ, cửa cát, lại giờ được Thiên Cầm thì bốn mùa đều tốt; được Thiên Phụ thì xuân hạ đại cát; được Thiên Tâm thì thu đông đại lợi; các sao khác đều bất lợi. Mỗi lần lấy giờ đến mà xem, xem sao nào làm Thiên Ất để định. Xem thế thì lấy lúc người đến mà phát xem, không giống như Lục Nhâm gieo quẻ theo giờ.
XEM CHIM KHÁCH KÊU
Lấy Chu Tước làm chủ, xem Chu Tước lâm kỳ nào, môn nào để quyết việc. Ví dụ: Khai Môn được kỳ, chủ có thân bằng đến, hoặc người đi xa về, hoặc chủ rượu thịt (đều lấy Khai Môn mà đoán, Nhân Bàn để đoán việc người, đây là nêu một góc). Hưu Môn được kỳ, chủ có việc vui (Hưu là vui), tin vui và việc hôn nhân. Sinh Môn được kỳ, chủ được điền sản, tài vật, lợn (đều thiết với cách đoán Sinh Môn). Nếu không được ba cửa này, hoặc môn bách, kỳ mộ, đều chủ không liên quan gì. Phải xem Cảnh Môn lâm cách tốt thì có tin vui, cách xấu thì có tin lo, hoặc phiền não nhỏ.
XEM THĂNG CHỨC
Phàm ngồi chức lâu ngày, có nhiều lời tiến cử mà chưa thấy thăng, muốn biết kỳ thăng, nên lấy Khai Môn mà quyết, vì Khai Môn là quan, giữ việc phát ấn. Khai Môn gia cung sinh vượng, lại có Tam Kỳ, Đức hợp, cách tốt, ắt gặp Nguyệt Kiến, Tuế Kiến cưỡi thần tốt đến sinh, chắc chắn được thăng cao. Nếu có cách tốt mà không vượng tướng, hoặc vượng tướng mà không có cách tốt, hoặc vượng tướng và cách tốt mà Tuế Nguyệt Kiến không đến sinh, thì cũng không thăng.
XEM THI HƯƠNG, THI HỘI (THI CỬ)
Lấy Nhật Can làm sĩ tử, Trực Phù làm tổng tài, Thiên Ất (tức Trực Sứ, ở đây chỉ quý nhân, không phải tên Trực Phù, nghi là Lục Nhâm gọi là Liêm Mạc) làm quan trường (giám khảo coi thi), Lục Đinh làm văn bài. Cung Trực Phù khắc cung Nhật Can thì quan chủ khảo không lấy. Cung Thiên Ất khắc cung Nhật Can thì quan coi thi không tiến cử. Cung Lục Đinh khắc cung Nhật Can, hoặc cung Nhật Can khắc cung Lục Đinh, hoặc Lục Đinh hưu tù phế một, đều chủ đề mục rất khó, văn bài thất vọng. Nếu cung Trực Phù, cung Thiên Ất đến sinh cung Nhật Can, cung Lục Đinh lại được vượng tướng thì ắt đỗ; thiếu một thì không đỗ, cho nên phải đủ các cách này mới được, đó là lý chí lý. Lục Nhâm cũng nên bắt chước phép này mà suy.
XEM BỆNH NGÀY NÀO KHỎI
Lấy Nhật Can của người bệnh làm chủ (ngày trong tứ trụ), lấy Thiên Nhuế làm thần bệnh, lấy hai cửa Sinh, Tử làm sống chết. Như Nhật Can rơi vào Sinh Môn thì sống không chết (đều là Thiên Bàn), được Tử Môn thì khó khỏi. Lại gặp Nhật Can hưu tù, được sao xấu, cách xấu, ắt chết; sáu cửa còn lại chủ dây dưa, lấy ngày Thiên Nhuế phế một làm kỳ khỏi. Xem bệnh con cái, Thời Can nhập mộ ắt chết.
XEM ĐI YẾT KIẾN
Yết kiến chuyên xem cung Hưu Môn (như Thiên Bàn Hưu gia Chấn là bản cung), làm người mình muốn gặp; cung Thời Can (Thiên Bàn Thời Can gia Địa Bàn Khảm là Thủy v.v) làm người đi đến. Nếu cung Hưu Môn sinh cung Thời Can, mà cung Thời Can lại có Tam Kỳ lâm, thì toại ý. Nếu tương khắc chế lại không có Tam Kỳ, thì không được gặp, hoặc không vui, cầu xin không thành. Lại phải hai cung ấy đều vượng tướng, nếu một bên hưu cựu thì không tốt. Nếu phương muốn gặp có Hưu Môn lâm, thì cũng được gặp.
XEM BẮT BỚ
Lấy Lục Hợp làm người trốn, lấy Thương Môn làm người bắt (hoàn toàn lấy Bát Môn làm chủ, vì Bát Môn là Nhân Bàn, chủ việc người). Nếu cung Lục Hợp (nghĩa là cung Địa Bàn mà Thiên Bàn Lục Hợp lâm vào, sau phàm nói cung đều bắt chước thế) khắc cung Thương Môn thì không bắt được, trái lại thì dễ bắt. Cung Thương Môn sinh cung Lục Hợp thì người bắt không hết lực, ắt bị đút lót. Thương Môn và Lục Hợp đồng cung thì hai bên thông đồng. Gặp cách năm tháng ngày giờ (cách của Canh) thì có thể bắt được, Thiên Cương thấp cũng vậy.
XEM HÔN NHÂN
Lấy Lục Ất làm nữ, Lục Canh làm nam, lấy nghĩa Giáp lấy em gái Ất gả cho Canh. Nếu hai cung Ất, Canh rơi vào tương sinh hợp thì thành, tương khắc thì không thành (như địa bàn Tý Mão hình v.v). Lại lấy Thiên Bàn Lục Hợp làm mối. Nếu cung Lục Hợp sinh cung Lục Ất thì mối hướng về nhà gái, sinh cung Lục Canh thì mối hướng về nhà trai. Cung Lục Canh khắc cung Lục Ất thì nhà gái sợ trai mà không gả. Cung Lục Ất khắc cung Lục Canh thì nhà trai chê gái mà không cưới. Cung Lục Ất mang Kích Hình thì nữ tính hung ác; mang Đức hợp thì nữ tính kiên trinh. Cung Lục Canh mang hung thần thì nam tính bạo liệt, mang Đức hợp thì nam tính ôn hậu.
XEM MẤT TRỘM (ĐỒ VẬT, NGƯỜI MẤT TÍCH)
Lấy Thời Can làm chủ mất (cùng lý với dụng thần của Lục Nhâm), Lục Hợp làm vật bỏ trốn, đều lấy cung rơi vào mà luận. Lại lấy cung Lục Hợp và cung Thời Can, xem ở trong hay ngoài để phân xa gần. Nếu Nhật Can và Lục Hợp đều ở nội thì dễ tìm, đều ở ngoại thì khó tìm. Lục Hợp ở ngoại, Thời Can ở nội thì khó tìm. Lại lấy cung Lục Hợp làm hướng. Nếu được sao vượng tướng, lại cưỡi bốn cửa Khai, Hưu, Sinh, Đỗ, thì không thể tìm được; trái lại thì dễ tìm. Cưỡi Cửu Địa, Thái Âm thì có người giấu; cưỡi Cửu Thiên thì đi xa; cưỡi Huyền Vũ thì bị người trộm mất; cưỡi Đằng Xà thì có người vặn hỏi, giữ lại; cưỡi Chu Tước thì có tin; cưỡi Câu Trần thì có kẻ dắt đi (trên đây chỉ nói về thần cưỡi trong Lục Nhâm). Lại xem Lục Canh, năm cách thì năm bắt được, tháng cách thì tháng bắt được, ngày cách thì ngày bắt được, giờ cách thì giờ bắt được.
XEM VAY MƯỢN
Lấy Trực Phù làm chủ vật, Thiên Ất (tức Trực Sứ, đều bắt chước thế) làm người đi vay, mỗi bên lấy cung rơi vào sinh khắc mà luận. Cung Trực Phù sinh cung Thiên Ất, cung Thiên Ất khắc cung Trực Phù thì vay mượn ắt thành. Cung Trực Phù khắc cung Thiên Ất, cung Thiên Ất sinh cung Trực Phù thì vay mượn không thành.
XEM VÕ CỬ (THI VÕ)
Lấy Trực Phù làm chủ khảo, Thời Can làm thí sinh, Giáp Thân Canh làm mũi tên, Giáp Ngọ Tân làm hồng tâm, Cảnh Môn làm sách luận. Chuyên xem cung Giáp Thân Canh rơi vào, nếu khắc cung Giáp Ngọ Tân, hoặc xung vào cung ấy thì là mũi tên trúng hồng tâm. Lại xem Cảnh Môn được vượng tướng, và với cung Trực Phù tương sinh, thì chủ đỗ. Thiếu một thì không đỗ theo lý mũi tên.
XEM CẦU TÀI
Nên phân hưu tù. Lấy cung Sinh Môn rơi vào làm dụng, lấy sao trên Hưu, Sinh, Khai làm dụng. Dùng sinh hưu thì tốt, hưu sinh cát thì không tốt. Tù vượng hưu suy, hưu tuy khắc tù nhưng không phải đại cát. Hưu vượng suy tù, tuy khắc hưu cũng không có hại lớn. Đại khái xem cung cửa rơi vào, rồi xem ba bàn trên dưới, cách cục cát hung thế nào. Cát tín cát tinh thì cầu xin như ý, nếu một điều không tốt thì cầu chỉ được nửa, hưu tù không tốt thì cầu chẳng được gì.
XEM CHỦ THUYỀN (TÀU THUYỀN) LÀNH HAY DỮ
Lấy cung Chấn (3) làm chủ thuyền, lấy sao trên Thiên Bàn được làm thiện ác của chủ thuyền. Trên cung Chấn được ba sao Phụ, Cầm, Tâm là thượng cát; Xung, Nhậm là trung cát; những chủ thuyền ấy là người tốt. Được Anh, Nhuế, Đỗ, Bồng là đại hung, không thể lên thuyền.
XEM NGƯỜI Ở NGOÀI BÌNH AN HAY KHÔNG
Trước hết định phương hướng, xem phương đó hai bàn trên dưới được Tam Kỳ, cửa cát, cả hai cửa trời đất đều có kỳ môn và các cách tốt, thì an; trái lại thì không an.
XEM ĐI THĂM BẠN
Đại khái Kỳ Môn dùng việc, chuyên chọn phương hướng và thời gian. Như ta muốn thăm bạn tìm người, lấy phương muốn đến, địa bàn làm chủ, thiên bàn làm khách, chủ khách cần tương sinh hợp, lại được cửa cát, sao cát thì ắt gặp. Nếu môn hung, hai bàn trên dưới lại tương khắc chế thì không gặp. Canh là cách năm tháng ngày giờ, gặp đây cũng không gặp.
XEM TUYẾT
Lấy hai cung Càn, Đoài làm chủ. Cung Thiên Tâm chính là Càn, sao Thiên Tâm cưỡi hai can Nhâm, Quý đến Đoài, hoặc Thiên Trụ, cung Đoài cưỡi hai can Nhâm, Quý đến Càn, đều chủ có tuyết. Lấy can của cung rơi vào, và can ngày của địa bàn để định kỳ.
Các bài liên quan (toàn bộ các quyển):
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 1
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 2
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 3
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 4
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 5
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 6
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 7
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 11
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 12
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 13
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 14 – Bói Hôn Nhân
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 15 – Tam Kỳ Nhập Mộ Ca
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 16 – Thiên Mã Phương Cát Thời Định Cục
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 17 – Tam Kỳ Đáo Cung Đoán
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 18 – Cửu Tinh Gia Trời Khắc Ứng
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 19
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 22
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 27
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 28
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 29
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Kíp Đại Toàn Quyển 30 – Hết Bộ Sách
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Tập Đại Toàn Quyển 20
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Tập Đại Toàn Quyển 23
- Kỳ Môn Độn Giáp Bí Tập Đại Toàn Quyển 24
